Đặc điểm sinh học cá Basa Pangasius bocourti

Đặc điểm sinh học cá BaSa Pangasius bocourti, Nguồn: Agriviet.

1. Phân loại
– Bộ cá nheo Siluriformes.

– Họ cá tra Pangasiidae.

– Giống cá ba sa Pangasius.

– Loài cá ba sa Pangasius bocourti (Sau vage 1880).

ca basa pangasius bocourti

2. Phân bố
– Cá phân bố chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long và khu vực duyên hải miền Trung.

– Có thể sống ở mọi tầng nước.

– Thích vùng nhiệt độ ẩm.

– Cá chịu được:
+ Nồng độ oxy thấp.

+ PH từ 4 – 5.

+ độ mặn từ 0 – 35‰ .

– Cá ba sa phân bố ở lưu vực sông Mê kông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái lan. Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân tạo, cá bột và cá giống tra và ba sa được vớt trên sông Tiền và sông Hậu. Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong tự nhiên địa phận Việt nam, do cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mê kông để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên.

3. Hình thái, sinh lý
– Cá basa là cá da trơn, có thân dài, chiều dài chuẩn bằng 2,5 lần chiều cao thân. Ðầu cá ba sa ngắn, hơi tròn, dẹp bằng, trán rộng. Miệng hẹp, chiều rộng của miệng ít hơn 10% chiều dài chuẩn, miệng nằm hơi lệch dưới mõm. Dải răng hàm trên to và rộngvà có thể nhìn thấy khi miệng khép. Có 2 đôi râu, râu hàm trên bằng chiều dài đầu, râu mép dài tới hoặc quá gốc vây ngực. Mắt to, bụng to, lá mỡ rất lớn, phần sau thân dẹp bên, lưng và đầu màu xám xanh, bụng trắng bạc. Chiều cao của cuống đuôi hơn 7% chiều dài chuẩn.

– Cá không có cơ quan hô hấp phụ, ngưỡng oxy cao hơn cá tra, nên chịu đựng kém ở môi trường nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp. Theo Nguyễn Tuần (2000), cá ba sa sống chủ yếu ở nước ngọt, chiụ được nước lợ nhẹ, nồng độ muối 12, chịu đựng được ở nơi nước phèn có pH >5,5. Ngưỡng nhiệt độ từ 18-400C, ngưỡng oxy tối thiểu là 1,1mg/lít. Nhìn chung sự chịu đựng của cá ba sa với môi trường khắc nghiệt không bằng cá tra, do đó cá được nuôi thương phẩm chủ yếu trong bè trên sông nước chảy.

4. Ðặc điểm dinh dưỡng
– Cá ba sa có tính ăn tạp thiên về động vật. Hệ tiêu hóa của cá thực sự hòan chỉnh 3 ngày sau khi bắt đầu ăn thức ăn bên ngòai. Cá rất háu ăn nhưng ít tranh, sau khi hết noãn hoàng cá ăn phù du động vật là chính. Trong điều kiện nuôi nhân tạo thức ăn thích hợp giai đọan đầu là ấu trùng Artemia, Moina, đạt được tỷ lệ sống tới 91 – 93%, trong khi dùng thức ăn nhân tạo thì tỷ lệ sống chỉ đạt 67% và tốc độ tăng trưởng cũng kém hơn. Từ ngày tuổi thứ 7 có thể chuyển sang ăn thức ăn nhân tạo. Nhu cầu protein của cá khỏang 30 – 40% khẩu phần, hệ số tiêu hóa protein khỏang 80-87% và hệ số tiêu hóa chất béo khá cao 90 – 98% (Nguyễn Tuần, 2000). Giai đoạn lớn cá cũng có khả năng thích ứng nhanh với các loại thức ăn có nguồn gốc động vật, thực vật và dễ kiếm như hỗn hợp tấm, cám, rau, cá vụn và phụ phẩm nông nghiệp, do đó thuận lợi cho người nuôi khi cung cấp thức ăn cho cá trong bè.

– Khi phân tích thức ăn trong ruột cá đánh bắt ngoài tự nhiên, cho thấy thành phần thức ăn khá đa dạng và thiên về động vật và mùn bã hữu cơ.

– Cá không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp), nên nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực, cái. Ở thời kỳ thành thục, tuyến sinh dục ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay nõan sào. Tuyến sinh dục của cá bắt đầu phân biệt được đực cái từ giai đọan II tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều. Các giai đọan sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa. Hệ số thành thục của cá (nuôi vỗ trong ao và bè) đạt 2,72 – 6,2%, sức sinh sản tuyệt đối đạt tới 67.000 trứng (cá 7 kg). Kích thước của trứng tương đối nhỏ và có tính dính, đường kính trứng từ 1,6 – 1,8 mm. Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 dương lịch, cá có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái lan, không đẻ tự nhiên ở phần sông của Việt Nam. Bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông Mêkông và Tonlesap, từ thị xã Kratie (Campuchia) trở lên đến thác Khone, nơi giáp biên giới Campuchia và Lào. Nhưng tập trung nhất từ Kampi đến hết Koh Rongiev thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng. Cá đẻ trứng dính vào giá thể thường là rễ của loài cây sống ven sông Gimenila asiatica, sau 24 giờ thì trứng nở thành cá bột và trôi về hạ nguồn. Trong nuôi vỗ sinh sản nhân tạo, mùa vụ thành thục và đẻ của cá thường sớm hơn trong tự nhiên từ 2 – 3 tháng. Cá thành thục và bước vào mùa vụ sinh sản nhân tạo từ tháng 3 và kéo dài đến tháng 7, tập trung vào tháng 4 – 5.

5. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng có trong cá basa
– Các thành phần cơ bản có trong cá ba sa: nước, protein, Glucid, lipid, muối khoáng, vitamin. Có tỉ lệ khác nhau trong cá bộ phận phụ thuộc vào giống loài,hoàn cảnh sống, trạng thái sinh lý, giống đực, cái, mùa vụ, thời tiết…

+ Protein cấu trúc: chiếm khoảng 70 – 75% tổng lượng protein.

+ Protein tương cơ: chiếm khoảng 25 – 30% tổng lượng protein

+ Protein mô liên kết :chiếm khoảng 3 – 10% tổng lượng protein

– Cá basa có giá trị dinh dưỡng cao vì thành phần dinh dưỡng chứa nhiều chất đạm, nhiều EPA và DHA ,ít cholesterol.

– Về chất béo ,hàm lượng chất béo trong cá basa ít hơn so với thịt .Chất lượng mỡ lại tốt hơn.các acid béo chưa no hoạt tính cao chiếm từ 50% đến 70% trong tổng số lipid bao gồm: oleic, linoleic, linolenic, archidonic, klupanodonic….

– Chất DHA (Docosahexaenoic Acid) giữ vai trò quan trọng quá trình sinh trưởng của tế bào não và hệ thần kinh ,có ảnh hưởng đến năng lực tìm tòi ,phán đoán,tổng hợp của của não.

– Chất EPA (Eicosapentaenoic Acid) cũng có nhiều trong acid béo chưa bão hòa của cá và có tác dụng phòng chống bệnh xơ vữa động mạch và nhồi máu cơ tim.Ngày nay các nhà khoa học đã cho biết thêm hàm lượng Cholesterol trong cá Basa cực kỳ thấp,chỉ chiếm khoảng 0,02% thành phần thịt cá.

6. Biến đổi của cá sau khi chết
Sau khi ca chết thì cá mất khả năng đề kháng của cơ thể, và bị vi sinh vật tấn công xâm nhập vào cơ thịt cá phân hủy cá. Quá trình vi sinh vật làm ươn hỏng cá chia thành 4 giai đoạn như sau:

a) Giai đoạn tiết nhớt:
– Da: Sáng tự nhiên, không biến màu, dịch nhớt trong suốt.

– Mắt: Lồi, giác mạc trong suốt, đồng tử đen, sáng.

– Mang: Màu sáng, không có dịch nhớt.

– Bụng: Săn chắc.

– Cơ thịt: có tính đàn hồi cao.

* Lưu ý: Ở giai đoạn này cá rất tươi và có mùi đặc trưng cho loài.

b) Giai đoạn tê cứng:
– Da: Sáng, không bóng láng. Dịch nhớt hơi đục.

– Mắt: Hơi lồi. Giác mạc hơi đục, đồng tử đen, mờ đục.

– Mang: Nhạt màu, hơi có dich nhớt.

– Bụng: Hơi mềm.

– Cơ thịt: Kém đàn hồi.

* Lưu ý: Giai đoạn này cá đã mất mùi đặc trưng, nhưng chưa có mùi lạ.

c) Giai đoạn mềm hóa:
– Da: Hệ sắc tố đang trong quá trình biến màu và mờ đục. Dịch nhớt trắng đục.

– Mắt: Phẳng. Giác mạc đục. Đồng tử mờ đục.

– Mang: biến màu mất màu sáng,mang nhợt nhạt,dần chuyển màu.dịch nhớt xuất hiện nhiều.

– Bụng: mềm, cơ thịt bụng có dấu hiệu bị vỡ ra.

– Cơ thịt: Hơi mềm, kém đàn hồi , bề mặt mờ đục.

d) Giai đoạn thối rữa:
– Da: Hệ sắc tố mờ đục. Dịch nhớt mờ đục, da và thịt ít kết dính.

– Mắt: Lõm ở giữa, giác mạc đục như sữa, có xuất hiện màu đỏ, đồng tử xám xịt.

– Mang: biến sang màu hơi vàng.dịch nhớt nhiều.

– Bụng: cá bị vỡ bụng.

– Cơ thịt: Mềm nhũn,vẩy dễ dàng tách khỏi da, không còn sự kết dính giữa các lớp thịt.

7. Biện pháp bảo quản
– Bảo quản bằng phương pháp lạnh. Ướp lạnh trực tiếp.

+ Dùng nước đá: căn cứ vào lượng cá cần bảo quản, ta có thể chon một cái thùng cho phù hợp,tiến hành muối như sau:

+ Thùng có lỗ thoát nước, ta cho một lớp đá xuống đáy thùng, sau đó cho lớp cá lên trên và cứ thế, ta rãi một lớp đá một lớp muối xen kẽ nhau cho đến khi đày thùng hoặc hết cá. Chú ý là lớp cá dày không quá 10cm, lớp đá dày không dưới 5cm.

– Dùng NaCl với nồng độ cao để ức chế các quá trình tự hủy và quá trình sinh trưởng phát triển của các vi khuẩn gây thối.

BÌNH LUẬN

Làm ơn để lại binh luận của bạn
Để lại tên của bạn tại đây