Đặc điểm sinh học chồn Nhung Đen

Đặc điểm sinh học chồn Nhung Đen, Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ.

I. Nguồn gốc và một vài đặc điểm hình thái
1.1 Nguồn gốc
– Chồn nhung đen còn có tên gọi là “hắc thốn”, có nguồn gốc từ Nam Mỹ, có nhiều ở vùng núi Andes, được Tây Ban Nha nhập vào nuôi cách đây hàng trăm năm. Sau được nuôi ở một số nước Châu âu, rồi phát triển sang Châu Á, chủ yếu nuôi nhiều ở khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc.

– Chồn nhung đen được tuyển chọn và phối giống từ nhiều loài chồn để tạo thành 1 loại chồn ưu việt có màu lông đen tuyền, toàn thân đều màu đen; đặc trưng của loài chồn nhung đen như sau: lông ngắn nhưng dày, mềm mại, khỏe mạnh, toàn thân đều là màu đen bóng mượt, mắt đen, môi đen, tứ chi màu đen, tai đen, mũi đen, không có đuôi. Bốn chân ngắn và nhỏ nhắn, chi trước có 4 ngón, chi sau có 3 ngón, chân sau dài bằng chân trước, thường dài khoảng 8 – 9 cm, các ngón chân đều có móng nhọn nhưng nhỏ và ngắn, thường thì móng chi trước dài khoảng 1,6 cm, còn các móng ở chi sau dài khoảng 1,3 cm; vùng đầu hình tròn, bên mép có râu xếp thành tầng, lớp; hàng trước ngắn, hàng sau dài, râu dài từ 0,5 – 4 cm, tai nhỏ và ngắn, dài khoảng 1,5 cm, rộng khoảng 3 cm, ở điểm giữa vành tai lại hướng vào trong nên tạo thành hình số 3. Núm vú ở con cái ở hai bên dưới vùng bụng, cơ quan sinh dục của con đực và con cái đều ở gần hậu môn. Chồn nhung đen trưởng thành, thân dài từ 30 – 40 cm, con đực dài hơn con cái, lông dài từ 1,5 – 3 cm, chồn con 2 tháng tuổi nặng khoảng 500 gam, sau đây liệt kê 4 loại chồn để so sánh sự khác biệt về màu lông cũng như hình thể:

– Giống Anh quốc: lông ngắn, mềm mại, thể trạng khỏe mạnh, màu lông có lẫn các màu trắng, đen, vàng xám.

– Giống Angola: sợi lông mảnh nhưng dài, bao phủ khắp mặt, đầu, thân người; màu lông thì có rất nhiều, có cả màu vàng cam, màu xám đen.

– Giống Tây Á: lông ngắn và thô, thể trạng yếu, màu nâu phân bố khắp toàn thân. Loại chồn này rất mẫn cảm đối với các loại dịch bệnh.

– Giống Pêru: lông ngắn nhưng dày, mềm mại như tơ, đặc biệt là ở vùng bắp chân và ở chi trước, vùng đầu lông bao phủ tới tận mũi, màu lông có rất nhiều: màu vàng cam, màu đen, màu xám, màu xanh da trời.

– Sau nhiều lần làm thực nghiệm trên 4 loại chồn kể trên, lông hỗn tạp các màu trắng, đen, xám và vàng, thể hình nhỏ, do đó khi lựa chọn loại chồn để nuôi dưỡng nhất định phải chú ý.

1.2 Đặc điểm hình thái
– Là loại động vật gậm nhấm, rất hiền lành, ăn tạp phong phú, có tính bầy đàn khá cao, nhút nhát và kém leo trèo.

– Toàn thân chồn được bao phủ bởi một lớp lông đen tuyền, mượt. Chồn nhung đen có 4 chi ngắn khoảng 8 cm. Trong đó 2 chi trước có 4 ngón và 2 chi sau có 3 ngón. Trên các ngón có các móng khá sắc, dài cỡ 1 cm.

– Chồn nhung đen cũng có đôi mắt, mũi, tai, môi đen tuyền. Tuy nhiên chúng lại không có đuôi như 1 số loài động vật khác.

chon nhung den

– Phần đầu hơi tù tròn, 2 bên mép có 2 hàng râu dài đều về phía sau.

– Tai chồn rất nhỏ và mỏng nên rất khó để quản lý đeo số tai cho chúng vì rất dễ bị rách.

– Chồn nhung đen chỉ có 2 vú ở 2 bên vùng bụng.

– Cơ quan sinh dục của cả đực và cái khá gần hậu môn, và trông khá giống nhau nếu không tinh mắt sẽ khó có thể phân biệt được chúng. Để phát hiện chúng ta ấn nhẹ tay vào cạnh cơ quan sinh dục chúng nếu là con đực thì chúng lòi cơ quan giao cấu, còn con cái thì không.

– Kích thước trung bình của chồn nhung đen: Dài x rộng x cao trung bình: 30 x 10 x 12 cm.

– Khối lượng chồn nhung đen trưởng thành trung bình khoảng 800g, một số con có thể đạt khoảng 1,4kg.

– Chồn nhung đen rất giàu giá trị dinh dưỡng: hàm lượng protein rất cao khoảng 19,7%; hàm lượng mỡ thấp chỉ khoảng 15%, đặc biệt chúng có chứa 1 số khoáng rất quan trọng đối với sức khoẻ con người như Zn, Se, giúp phòng tránh ung thư, hàm lượng Fe rất cao (gấp 3 lần baba), cholesterol rất thấp nên rất có lợi cho sức khoẻ, chính vì vậy chúng trở thành thứ đặc sản quý trong cẩm nang các bài thuốc quý dân gian.

II. Đặc điểm dinh dưỡng và sinh sản
2.1 Thức ăn và dinh dưỡng
– Cũng như đã nói ở trên, thức ăn của chồn nhung đen rất phong phú, có thể là : thức ăn xanh, thức ăn tinh, thức ăn củ quả hoặc có thể là phế phụ phẩm… Chính vì vậy tuỳ từng điều kiện chăn nuôi từng nơi khác nhau có thể áp dụng một trong các khẩu phần sau để có thể phù hợp với từng điều kiện thực tế.

nuoi chon nhung den

– Nhu cầu nước uống: do thức ăn của chồn có tỷ lệ các loại thức ăn xanh chứa khá nhiều nước nên nhìn chung nhu cầu nước uống tiêu thụ rất ít. Trung bình mỗi ngày một chồn trưởng thành tiêu tốn khoảng 40g nước (dao động khoảng 25 – 60g).

2.2 Sinh sản
– Chồn nhung đen có khả năng sinh sản khá cao, mỗi năm trung bình đẻ khoảng 4 lứa. Mỗi lứa đẻ trung bình từ 3 – 4 con. Thời gian mang thai của chồn là 65 ngày. Thời gian cai sữa cho chồn con là 20 – 21 ngày. Chồn mẹ sau khi sinh khoảng 3 giờ sau đã có có thể động dục trở lại nhưng trong thực tế người ta ít khi cho phối ở thời điểm này vì sợ ảnh hưởng tới khả năng chăm sóc của đàn con. Thường sau khi cai sữa xong từ 1 – 3 ngày sau chồn lại động dục, phối được luôn, và đây là thời điểm mà người chăn nuôi thường cho phối nhất.

– Đối với chồn hậu bị chuẩn bị bước sang giai đoạn sinh sản, vào khoảng 50-60 ngày chúng đã có những biểu hiện động dục đầu tiên. Tuy nhiên không nên để chồn tự do ghép đôi giao phối ở những thời điểm này mà thường để chồn khoảng 70-80 ngày tuổi đối với con cái, 90-100 ngày tuổi đối với con đực mới cho giao phối vì thời điểm này chồn mới phát triển thành thục các bộ phận cơ quan sinh lý.

– Để phát hiện thời điểm động dục của chồn là tương đối khó vì chồn động đụng ngầm và khá kín. Chỉ thấy đôi khi một số chồn cái nhảy lên lưng của nhau, và khi thả chồn đực vào chồn đực dựa vào khả năng khứu giác rất thính của chúng sẽ lập tức ngừi những con cái đang có biểu hiện động dụng và nhảy lên lưng. Nếu con cái đã đến thời gian động dục chúng sẽ cho con đực nhảy lên còn không chúng sẽ chạy mát không cho con đực nhảy.

– Khi chồn cái đã mang thai chúng ăn uống khá mạnh. Đó là một trong những lý do giải thích bào thai của chúng thuộc loài vật nuôi chiếm tuỷ trọng lớn nhất hiện nay. Nhiều con trước khi chửa chỉ nặng khoảng 600g nhưng sau khi chửa chúng có thể nặng thới 1.200g. Điều đó cũng được thể hiện qua khối lượng con sơ sinh của chúng vào khoảng 100g. Lúc chuẩn bị trước khi đẻ 2-3 ngày nếu là đàn nuôi quần thể nên tách riêng chúng ra một ô riêng, những ngày này chồn thường cắp những cọng rơm dạ lá khô …để làm tổ trước khi đẻ. Chính vì vậy cần chuẩn bị nguyên liệu, chuồng trại sạch sẽ để chồn mẹ sinh. Chồn con sau khi sinh loại động vật đã mở mắt và rất nhanh nhẹn. Khoảng nửa giờ đồng hồ chúng đã có khả năng chạy bình thường, 3 ngày tuổi chúng đã có khả năng ăn một số loại thức ăn xanh mềm, 5 ngày tuổi. Chú ý trong thời gian nuôi con này tránh thả lẫn con đực trưởng thành vào vì chúng có thể cắn chết chồn con.

– Tỷ lệ ghép phối: Đối với chồn được nuôi theo nhóm quần thể có thể ghép phối theo tỷ lệ 1 đực: 4 cái là được. Chồn thường được cho phối trực tiếp, chứ chưa có tài liệu nào thấy cho phối nhân tạo.

III. Sinh trưởng và phát triển
3.1 Tập quán sinh hoạt
– Tính tình của loài Chồn nhung đen khá hiền lành, không cắn người cũng không cào cấu, đối với con người rất hiền lành, không xảy ra đối kháng với các loài động vật khác, trốn chạy là bản năng duy nhất, không giỏi leo trèo, chạy nhảy, không cần làm lồng che phủ, xây chuồng trại cũng có thể nuôi dưỡng chồn ; sợ ẩm ướt, thích môi trường sống khô ráo sạch sẽ; rất nhát gan, trong không gian yên tĩnh, đột nhiên có âm thanh hoặc có loài chuột, gia cầm, gia súc, hoặc người lạ đột nhiên xông vào sẽ làm chồn bị hoảng sợ, kích động (trừ người cho ăn thường xuyên ra vào); khứu giác và thính giác của loài chồn rất phát triển, đối với sự thay đổi của môi trường rất mẫn cảm, ví dụ như sự thay đổi đột ngột của thời tiết; không khí ô nhiễm.

– Chồn con sau khi dứt sữa và chồn trưởng thành đều rất thích chung sống với nhau, thường đùa giỡn với nhau, rất hoạt bát, do đó, cần có khoảng trống rộng để chồn chơi đùa, nếu không quá trình sinh trưởng phát dục sẽ không tốt, mà tỷ lệ sinh sản lại thấp đi thấy rõ.

– Chồn nhung đen khá mẫn cảm đối với những thay đổi đột ngột của nhiệt độ, không thích ứng được với sự biến đổi lớn của thời tiết, ví dụ như: trời mùa đông đột nhiên nóng lên, trời mùa hạ lại đột nhiên trở lạnh, nếu không tăng cường chú ý thì sẽ dễ bị nhiễm bệnh, thích hợp với nhiệt độ khoảng 18 – 25 độ C.

– Chồn nhung đen thường dùng tiếng kêu để biểu thị yêu cầu của mình, ví dụ như sau khi chồn đã quen với người cho ăn thì từ xa, chỉ cần nghe thấy tiếng bước chân, tiếng nói chuyện của người cho ăn liền phát ra tiếng kêu “chi chi chi”; đặc biệt là khi chúng đói và đòi ăn thì tiếng kêu càng to và nhiều hơn. Do bị đói nên khi người cho ăn mở cửa bước vào phòng, có con còn chồm hai chân trước lên và đứng bằng hai chi sau, hai chi trước con chụm vào nhau đưa lên cao để đòi ăn, giống như đang hành lễ với người cho ăn; sau khi được cho ăn thì lập tức ngoan ngoãn ngừng kêu, yên lặng tranh ăn với nhau, sau khi ăn no liền nô đùa với nhau.

– Chồn đực vào thời kỳ phát dục, liền theo đuổi chồn cái và phát ra tiếng kêu trầm “ tu lu tu lu”; sau khi giao phối lại phát ra tiếng kêu “ chiu chiu chiu” biểu thị sự hưng phấn và hài lòng. Trong mùa giao phối, giữa các con đực với nhau xảy ra những va chạm, xung đột, con nào mạnh hơn sẽ nghiến răng nghiến lợi và phát ra tiếng kêu “ cưa cưa”, thể hiện sự tức giận, đuổi kẻ yếu hơn đi. Chồn nhung đen có tập tính đoàn kết với nhau chống lại kẻ thù, khi nghe thấy một âm thanh lạ liền lập tức phát ra tiếng kêu cảnh báo “gu lu”, đồng thời lập tức chạy trốn.

– Chồn nhung đen là loại động vật ăn cỏ cỡ nhỏ, giác quan phát triển, thành dạ dày rất mỏng, ruột thừa khá lớn, thích ăn lá mạ non có chứa nhiều xơ, đặc biệt là ngọn cây non của các loại dây leo thân mềm. Chồn nhung đen có khả năng tiêu hóa các loại chất xơ rất tốt, có thể tiêu hóa tới 38,2% hàm lượng chất xơ.

– Về các loại thức ăn của chồn nhung đen thì có các đặc trưng như sau: khi chọn các thức ăn tinh cho chồn nhung đen ( ví dụ như: lúa mạch, cám gạo) nên chọn các loại thức ăn phù hợp với khẩu vị của chồn, khiến cho chồn ăn tốt hơn, 1 khi thay loại thức ăn, lập tức xảy ra hiện tượng kén ăn hoặc thậm chí là ngừng ăn, nhưng sau khi thích ứng với loại thức ăn mới, chồn nhung đen lại ăn nhiều trở lại.

3.2 Sinh trưởng và phát dục
– Thời gian chồn nhung đen từ lúc sinh cho tới lúc trưởng thành là khoảng 60 ngày đối với con cái, và khoảng 70 ngày đối với con đực. Chồn đực và chồn cái sau khi giao phối thành công, chồn cái mang thai khoảng 60 – 70 ngày, mỗi lần sinh từ 3 – 6 con, mỗi năm mang thai 4 – 5 lần, một con đực phối cho 1 – 2 con cái là tốt nhất. Thời gian chồn cái sinh con xảy ra vào cả buổi ngày lẫn buổi đêm, nhưng thường thấy rất nhiều vào đêm khuya, sau khi sinh chồn mẹ liền ăn nhau thai của chồn con, liếm sạch lông cho chồn con, sau đó mới cho chồn con bú. Chồn con sau khi sinh vài tiếng liền có thể ăn được thức ăn ngoài, sau 40 – 60 ngày chồn con có thể trọng khoảng 500 gam. Tuổi thọ của chồn nhung đen có thể kéo dài khoảng 6 – 7 năm, thường là 3 – 4 năm.

BÌNH LUẬN

Làm ơn để lại binh luận của bạn
Để lại tên của bạn tại đây