Đặc điểm sinh học của Hàu

ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC HÀU

I. Tổng quan

Hầu phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Mặc dù Hầu có khả năng thích nghi tốt với điều kiện nuôi nhưng nghề nuôi hầu chỉ phát triển ở vài quốc gia ở vùng nhiệt đới. Sản lượng Hầu thu được chủ yếu là khai thác từ tự nhiên. Các loài Hầu hiện nay đang được nuôi và khai thác bao gồm ba nhóm (giống) chính: Ostrea, Crassotrea, Saccotrea. Sản lượng Hầu chủ yếu thu được từ nhóm Crassotrea.

Những nghiên cứu về sinh học của Hầu đa số tập trung trên các đối tượng vùng ôn đới. Galtsoff (1964) đã tập hợp một số dẫn liệu sinh học tổng quát loài Crassostrea virginica. Quayle (1975) cũng đã tập hợp các danh mục tham khảo về sinh học và kỹ thuật nuôi các loài Hầu vùng nhiệt đới. Gần đây Breisch và Kennedy (1980) đã đưa ra danh mục tham khảo bao gồm nhiều lãnh vực như phân loại, sinh học và kỹ thuật nuôi với hơn 3000 tư liệu.

II. Đặc điểm sinh học

1. Phân bố

Hầu phân bố rộng trên toàn thế giới, nhưng đa số tập trung ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Vùng phân vố của các loài được trình bày theo bảng sau:

Hầu phân bố theo độ sâu từ trung triều (intertidal) đến độ sâu 10 m (so với 0 hải đồ). Chúng phân bố ở các thủy vực có nồng độ muối từ 5-35 ‰.

2. Phương thức sống

Ở giai đoạn ấu trùng chúng sống phù du. Ấu trùng Hầu có khả năng bơi lội nhờ vào hoạt động của vành tiêm mao hay đĩa bơi. Ở giai đoạn trưởng thành Hầu sống bám trên các giá thể (sống cố định) trong suốt đời sống của chúng.

3. Thức ăn và phương thức bắt mồi

– Thức ăn của ấu trùng bao gồm vi khuẩn, sinh vật nhỏ, tảo Silic (Criptomonas, Platymonas, Monax) hoặc trùng roi có kích thước 10m hoặc nhỏ hơn. Âúu trùng cũng có thể sử dụng vật chất hòa tan trong nước và những hạt vật chất hữu cơ (detritus). Giai đoạn trưởng thành thức ăn chủ yếu là thực vật phù du và mùn bã hữu cơ. Các loài tảo thường gặp là các loài tảo Silic như: Melosira, Coscinodiscus, Cyclotella, Skeletonema, Navicula, nitzschia, Thalassiothrix, Thalassionema…
– Phương thức bắt mồi của Hầu là thụ động theo hình thức lọc. Cũng như các loài Bivalvia khác, Hầu bắt mồi trong quá trình hô hấp nhờ vào cấu tạo đặc biệt của mang. Khi hô hấp nước có mang theo thức ăn đi qua bề mặt mang, các hạt thức ăn sẽ dính vào các tiêm mao trên bề mặt mang nhờ vào dịch nhờn được tiết ra từ tiêm mao. Hạt thức ăn kích cỡ thích hợp (nhỏ) sẽ bị dính vào các dịch nhờn và bị tiêm mao cuốn thành viên sau đó chuyển dần về phía miệng, còn các hạt thức ăn quá lớn tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nước cuốn đi khỏi bề mặt mang sau đó tập trung ở mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài. Mặc dù Hầu bắt mồi thụ động nhưng với cách bắt mồi này chúng có thể chọn lọc theo kích thước của hạt thức ăn. Quá trình chọn lọc được thực hiện 4 lần theo phương thức trên: lần thứ 1 xảy ra trên bề mặt mang; lần thứ 2 xảy ra trên mương vận chuyển; lần thứ 3 xảy ra trên xúc biện; lần thứ 4 xảy ra tại mang nang chọn lọc thức ăn. Thức ăn sau khi được chọn lọc bởi mang nang chọn lọc được đưa trở lại dạ dày đề tiêu hóa. Tại dạ dày thức ăn bị tiêu hóa một phần bởi các men Amylase, Bylyrase, Glycogenase và Rennet do mang tinh cá tiết ra. Sau đó thức ăn được chuyển đến manh tiêu hóa, tại đây thức ăn tiếp tục được tiêu hóa bởi các men Amylase, Lactase, Glycogenase, Lipase, Maltase, Protease. Hạt thức ăn không thích hợp được đẩy thẳng xuống ruột và ra ngoài qua hậu môn.
– Các tác nhân ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của Hầu là thủy triều, lượng thức ăn và các yếu tố môi trường (nhiệt độ, nồng độ muối…).
+ Khi triều lên cường độ bắt mồi tăng, triều xuống cường độ bắt mồi giảm.
+ Trong môi trường có nhiều thức ăn thì cường độ bắt mồi thấp và ít thức ăn thì cường độ bắt mồi cao.
+ Khi các yếu tố môi trường (nhiệt độ, nồng độ muối…) trong khoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi cao và khi các yếu tố môi trường ngoài khoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi thấp.

4. Sinh trưởng

Nhiệt độ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của Hầu. Ở vùng nhiệt đới nhiệt độ ấm áp nên tốc độ sinh trưởng của Hầu rất nhanh và quá trình sinh trưởng diễn ra quanh năm. Thí dụ loài Crassostrea paraibanensis có thể đạt chiều cao 15cm trong một năm (Singaraja 1980). Ở vùng ôn đới quá trình sinh trưởng chỉ diễn ra trong mùa xuân-hè, mùa thu-đông Hầu gần như không sinh trưởng. Sự sinh trưởng của Hầu còn phụ thuộc vào mật độ, ở Venezuela Hầu trong các đầm nước lợ thì chậm lớn vì độ quá cao nhưng trong điều kiện nuôi thì chúng đạt 6cm trong vòng không đầy 6 tháng. Tốc độ sinh trưởng của Hầu cũng khác nhau tùy theo loài và vùng phân bố do điều kiện môi trường nước của từng vùng khác nhau và do đặc tính riêng của từng loài (yếu tố di truyền). Một đặc điểm nổi bậc của Hầu vùng nhiệt đới là sinh trưởng rất nhanh trong 6-12 tháng đầu tiên sau đó chậm dần.

5. Đặc điểm sinh sản của Hầu

– Giới tính: có hiện tượng biến tính (thay đổi giới tính) ở Hầu. Trên cùng cơ thể có lúc mang tính đực, có lúc mang tính cái và cũng có khi lưỡng tính. Tỉ lệ lưỡng tính trong quần thể thường thấp.
– Phương thức sinh sản: tùy theo loài mà hình thức sinh sản khác nhau. Nhóm Crassostrea và Saccostrea thì đẻ trứng và tinh trùng ra môi trường nước, quá trình thụ tinh và phát triển ấu trùng diễn ra trong nước. Đối với nhóm Ostrea thì quá trình thụ tinh và phát triển ấu trùng diễn ra bên trong xoang màng áo của cá thể mẹ đến giai đoạn diện bàn hoặc muộn hơn mới ra khỏi cơ thể mẹ.
– Mùa vụ sinh sản: ở vùng nhiệt đới sau một năm đã thành thục và tham gia sinh sản. Mùa vụ sinh sản xảy ra quanh năm nhưng tập trung từ tháng 4-6. Mùa vụ sinh sản ở vùng nhiệt đới thường ít tập trung và kéo dài hơn so với vùng ôn đới. Tác nhân chính kích thích đến quá trình thành thục và sinh sản của Hầu là nhiệt độ, nồng độ muối và thức ăn có trong môi trường.

6. Địch hại và khả năng tự bảo vệ

Địch hại của Hầu bao gồm cá yếu tố vô sinh (nồng độ muối, nhiễm bẫn, độc tố, lũ lụt…) và yếu tố hữu sinh bao gồm các sinh vật cạnh tranh vật bám (Balanus, Anomia…), sinh vật ăn thịt (Rapana, Thais, sao biển, cá…), sinh vật đục khoét (Teredo, Bankia…), sinh vật ký sinh (Myticola, Polydora…) và các loài tảo gây nên hiện tượng hồng triều (Ceratium, Peridium…).
Hầu có khả năng tự bảo vệ nhờ vào vỏ, khi gặp kẻ thù chúng khép vỏ lại. Ngoài ra chúng còn có khả năng chống lại các dị vật (cát, sỏi), khi dị vật rơi vào cơ thể màng áo sẽ tiết ra chất xà cừ bao lấy dị vật.
Đặc điểm sinh học Hàu, Nguồn: Tài liệu Việt Nam.

BÌNH LUẬN

Làm ơn để lại binh luận của bạn
Để lại tên của bạn tại đây