Giáo trình Kỹ thuật nuôi cá Cảnh – Phần 2

Chương II: MÔI TRƯỜNG NUÔI CÁ CẢNH

I. Bể nuôi cá
1.1 Thiết kế bể nuôi
a) Qui luật vàng: Bể nuôi phải đủ lớn, phải có đủ bề rộng lớn để oxy khuếch tán và giải thoát các khí độc hại. Tuy nhiên đối với những bể nuôi kín (có nắp đậy) thì cần có hệ thống sục khí và lọc nước.

b) Khung kim loại: Khung phải vững chắc để giữ cho bể không bị sạt. Khung có thể làm bằng sắt, nhôm, hoặc plastic cứng.

c) Vật liệu làm bể: Bể kính là vật liệu rất tốt để nuôi cá cảnh trong nhà. Tuy nhiên bể có thể làm bằng xi măng như những hồ nhỏ đặt trong nhà, dưới cầu thang.

d) Sự chiếu sáng:
– Ánh sáng đóng vai trò quan trọng làm tăng vẻ đẹp của bể kính. Ánh sáng tác động đến cá như là một chất kích thích và cũng cần thiết kế cho cây quang hợp. Bể nuôi phải đặt ở nơi thuận tiện cho việc chiếu sáng. Mỗi ngày cần chiếu sáng cho bể khoảng 1 giờ dưới ánh sáng mặt trời. Tuy nhiên có thể sử dụng các đèn chiếu sáng khoảng 8 – 15 giờ trong ngày. Có thể dùng bóng đèn 25 watts cho 0.09m2 mặt bể và có thể chiếu sáng trong 8 giờ. Nếu ánh sáng vượt quá sẽ làm quần thể tảo phát triển và nếu không đủ thì là rong héo đi. Ánh sáng thường là màu đỏ, xanh da trời, xanh lá cây.

– Chiếu sáng bằng đèn thường như bóng đèn tròn. Đèn này có tác dụng là dễ lắp đặt và thay thế. Trở ngại là ánh sáng ngắn, tiêu thụ nhiều điện, có thể làm nóng bể nuôi.

– Chiếu ánh sáng bằng đèn huỳnh quang như đèn nê-ông. Đèn có ưu điểm là thời gian sử dụng lâu, tiêu thụ không đáng kể, không làm nóng bể, phân bố đồng đều ánh sáng, màu ánh sáng khác nhau có thể làm tăng giá trị màu sắc của cá và giúp cho cây tăng trưởng dễ dàng. Trở ngại là tương đối đắt và lắp đặt tương đối phức tạp.

e) Tiêu chuẩn của một bể:
– Nước trong bể kính có thể được tính theo công thức: DÀI x RỘNG x CAO x 0,625

– Vị trí đặt bể: Bể có thể đặt tại nơi có đầy đủ ánh sáng, tiện lợi trong thay nước và có thể ngắm bất cứ lúc nào.

– Kích thước của bể nuôi cá:

thiet ke be nuoi ca

1.2 Cân bằng sinh học của bể
Một bể nuôi tốt là cộng đồng sống tự nó giữ được cân bằng sinh học. Bể nuôi giữ được cân bằng khi cây mọc tốt và cá sống bình thường, nước vẫn trong. Giữa các thành phần khác nhau của bể nuôi, xảy ra những trao đổi ổn định. Sự cân bằng giữa hệ thực vật và hệ động vật lớn mà còn ở những sinh vật nhỏ như vi khuẩn, trùng cỏ, trùng bánh xe.

a) Chu trình sinh học
Thực vật nhờ sự đồng hóa Chlorophyl dưới ánh sáng mặt trời mà ta gọi là sự quang hợp, sẽ sản sinh ra oxy cung cấp cho cá. Đồng thời qua quá trình quang hợp chúng sẽ hấp thu CO2 do cá thải ra, nếu không được hấp thụ thì cá bị ngợp.

su quang hop

b) Nguyên nhân mất cân bằng sinh học của bể nuôi
– Thiếu cây: Thật khó xác định chính xác lượng rong tảo cần thiết cho bể nuôi, điều này tùy thuộc từng loại cây trồng. Thông thường một số nhánh rong xương cá Myriophyllum cung cấp oxy đầy đủ cho 1 lít nước.

– Thiếu ánh sáng: Trong quá trình quang hợp, thực vật cần ánh sáng mặt trời cho nên bể nuôi không có ánh sáng mặt trời thì thực vật không quang hợp được gây nên tình trạng thiếu oxy. Chính vì thế trong bể nuôi, có thực vật thì phải bắt buộc phải có ánh sáng.

– Thừa cá: Nếu một bể nuôi thả nhiều cá quá sẽ trở nên mất cân bằng ngay cả bể có trồng rong. Trong trường hợp này phải cho nước thoáng khí một cách nhân tạo bằng cách dùng máy sục khí hoặc làm giảm lượng cá. Khó mà xác định lượng cá là bao nhiêu trong một bể nuôi tự nhiên. Những loài thuộc họ cá sặc Belontidae như cá chọi, cá đuôi cờ Macropodus… vấn đề thoáng khí của nước không cần đặt ra vì chúng có cơ quan hô hấp phụ thở bằng khí trời.

– Thừa thức ăn: Thực vật không chỉ cung cấp oxy cho nước mà còn hấp thu các chất thải trong nước như thức ăn thừa, phân… cho nên cần cho ăn với lượng vừa đủ.

II. Chất lượng nước máy để nuôi cá
2.1 Về Chlorine
Chlorine có trong nước máy có từ việc khử trùng của nhà máy nước. Tuy nhiên, nếu sử dụng nước này để nuôi cá thì nên để nó bốc hơi trong vòng 2 – 3 ngày. Trong trường hợp sử dụng nước máy trực tiếp có thể sử dụng Thiosulfat sodium để khử Chlorine.

2.2 Về Fluoride
Fluoride là chất hóa học nguy hiểm. Chất này có trong nước do việc khử trùng từ nước máy. Nếu đun sôi thì nó sẽ bay hơi. Xử lý nước bằng cách sục khí hay để nước sau 2 – 3 ngày mới sử dụng.

2.3 Về pH
pH trong nước thích hợp để nuôi cá từ hơi acid (pH = 6) đến trung tính (pH = 7) hoặc hơi kiềm (pH = 8). Đối với nước biển thì pH từ 8,1 – 8,3.

2.4 Nhiệt độ của nước
Nhiệt độ nước thay đổi tùy theo trạng thái của cá và cây xanh trong bể. Ở vùng nhiệt đới, các bể nuôi không thấp hơn 18 độ C và có thể lên tới 30 độ C.

III. Các hệ thống lọc nước
– Lọc nước là dùng máy bơm nước nhỏ hay hệ thống sục khí bơm nước đang nuôi ra ngoài để loại bỏ hay phân hủy thức ăn thừa, phân và Ammonia NH3 ảnh hưởng đến cá. Trong tự nhiên quá trình này gọi là vòng tuần hoàn Nitơ hay quá trình lọc sinh học. Quá trình này làm nhờ vi khuẩn biến ammonia thành nitrite và vi khuẩn Nitrosomomas biến nitrite thành nitrate không hại.

– Có 4 hình thức lọc nước trong nuôi thủy sản là lọc qua lớp sỏi, máy lọc ngoài, lọc tia nhỏ và hệ thống lọc sinh học.

3.1 Lọc qua lớp sỏi
Đây là hệ thống dễ nhất và rẻ nhất. Một vỉ nhựa khoan lỗ đặt trên đáy bể và có lớp nền (mút) bao phủ lên trên. Nước chảy thấm qua chất nền và qua lớp sỏi rồi đưa lên trên mặt nước. Nước chảy qua chất nền lọc cho phép vi khuẩn ưa khí hoạt động và giảm ammonia và nitrite.

3.2 Máy lọc ngoài
Hệ thống cần có máy bơm bơm nước ra hệ thống lọc bên ngoài. Nước được bơm ra ngoài qua dụng cụ lọc. Dụng cụ này là những ống sứ, thỏi than, len lọc. Dụng cụ lọc là nơi cho vi khuẩn sống để biến nitơ có hại thành vô hại đối với cá nhờ tác động của vi khuẩn. Bơm sẽ đưa nước qua những vật liệu này.

3.3 Lọc tia nhỏ
Đây là hệ thống khay là nơi trú ngụ cho vi khuẩn. Mỗi khay được khoan ở đáy khay và nước được bơm đến đỉnh của hệ thống tạo thành tia qua các khay và trở về bể nuôi sau khi phân hủy những chất cặn bã trong hệ thống nuôi.

3.4 Hệ thống lọc sinh học
– Hệ thống này gồm hàng loạt bể chứa các vật liệu khác nhau. Đầu tiên nước được lọc qua vải lọc, rồi san hô, cát to, cát mịn và được bơm trở lại bể nuôi.

– Nồng độ tổng đạm cao nhất cho phép trong nước nuôi cá là 1ppm. Có thể lọc nước bằng cách cho 1g Citric acid crystal vào 0,57 lít nước và kế đó cho 1ml dung dịch này vào 1 gallon (1 gallon = 4.5 Lít) nước nuôi và sau đó lọc bằng máy lọc. Lập đi lập lại vài lần theo công thức sau: Dài x Rộng x Cao x 0.645.

3.5 Sục khí
Sục khí là quá trình bơm không khí hòa tan vào nước để tăng hàm lượng oxy. Hiện nay người nuôi cá cảnh thường sử dụng máy sục khí của Trung Quốc, Đài Loan cho cá bể kính nuôi cá cảnh. Còn với các hệ thống bể xi măng lớn phải sử dụng máy thổi lớn hơn.

IV. Các quá trình xảy ra trong lọc sinh học
4.1 Sự khoáng hóa
– Là giai đoạn đầu tiên của quá trình lọc sinh học. Sự khoáng hóa được thực hiện bởi các nhóm vi khuẩn tự dưỡng và dị dưỡng. Các loài dị dưỡng sử dụng sản phẩm của hoạt động sống làm nguồn năng lượng và chuyển hóa các vật chất này thành dạng đơn giản như amonia.

– Sự khoáng hóa bắt đầu bằng việc phân giải các chất prôtêin vá các acid nucleic để tạo nên các acid amin và bazơ hữu cơ chứa nitơ. Tiếp đó quá trình khoáng hóa sẽ khử amin bởi các vi khuẩn, trong đó một nhóm amino sẽ tách ra để hình thành amonia theo phương trình phân hủy urê như sau:

qua trinh khoang hoa

4.2 Sự nitrát hóa
– Khi các chất hữu cơ được khoáng hoá qua trạng thái vô cơ bởi các vi sinh vật dị dưỡng thì sự lọc sinh học chuyển sang giai đoạn 2 là sự nitrate hóa. Các sinh vật tự dưỡng sử dụng cacbon vô cơ làm nguồn cacbon cho tế bào, chủ yếu là các nhóm vi khuẩn Nitrosomomas và Nitrobacter là các nhóm chính của những vi khuẩn tự dưỡng thực hiện sự nitrate hóa ở cả môi trường nước ngọt, lợ và mặn. Nhóm Nitrosomomas có nhiệm vụ oxy hóa amonia thành dạng nitrite, nhóm Nitrobacter thành dạng nitrate. Phương trình của sự Nitrate hóa như sau:

su nitrate hoa

– Cả hai phản ứng đều cho thấy sự giảm năng lượng tự do, điều này rất có ý nghĩa cho việc chuyển hóa các dạng độc chất amonia, nitrite thành dạng nitrate vô hại.

– Hàm lượng NO2- và NH4+ giảm nhanh trong vòng từ ngày thứ 7 đến thứ 14 trở đi, nghĩa là sau khoảng 1 tuần lễ đầu kể từ khi bố trí lọc sinh học, sự tritrate hóa sẽ bắt đầu và sẽ ổn định sau 2 tuần.

– Trong 2 dạng tồn tại của amonia thì dạng không phân ly NH4OH rất độc với cá, tôm vì nó ngấm qua được màng tế bào mang cá do nó không mang điện tích, hơn nữa nó có khả năng hòa tan chất béo. Dạng NH4+ là một ion có kích thước lớn, vì nó kết hợp với nước và mang điện tích nên nó khó ngấm được qua màng tế bào của mang cá. Ảnh hưởng gây độc đối với amonia rất lớn, giết chết cá trong thời gian ngắn khi nồng độ ≥ 0,6mg/L.

– Đối với dạng NO3- và NO2- thì dạng NO2- gây độc hại vì phản ứng được với Hemoglobin tạo nên Methalemoglobin ngăn cản sự vận chuyển oxy ở tôm cá nuôi.

su bien doi nitrate theo thoi gian

4.3 Sự khử nitrate
– Khử Nitrate là một quá trình kỵ khí xảy ra ở phần bể lọc sinh học thiếu oxy bởi vi khuẩn kỵ khí thực sự hoặc là các loài hiếu khí chuyển sang hô hấp kỵ khí khi điều kiện thiếu oxy. Thông thường các sinh vật này là loài dị dưỡng, nhiều loài thuộc nhóm Pseudomonas, chúng phát triển mạnh khi oxy cạn kiệt.

– Kết quả sự khử nitrate chuyển nitơ về dạng oxy hóa thấp hơn như N2O, N2. Nitơ tự do sẽ bay vào không khí làm giảm lượng nitơ trong nước. Tuy nhiên trong hoạt động của sinh vật thì sự oxy hóa vô cơ nhiều hơn là sự giảm oxy hóa nên lượng nitơ vô cơ thừa chỉ có thể tách ra được khỏi dung dịch bằng cách đều đặn thực hiện thay nước một phần hay trồng thực vật thủy sinh, hay nhựa trao đổi ion.

– Sự khoáng hóa, sự nitrate hóa và khử nitrate là quá trình hầu như kế tiếp nhau có trình tự trong thời kỳ đầu của hệ thống nuôi. Một khi các điều kiện đã đạt mức cân bằngthì các quá trình này diễn ra hầu như đồng thời. Hệ thống hoạt động ổn định khi hàm lượng amonia < 0,1 mg/L. Trong 3 quá trình trên thì sự khoáng hóa và nitrate hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc tái sinh nước, giữ được chất lượng nước ổn định. Quá trình khử nitrate xảy ra ở phần bể lọc bị thiếu oxy và sản phẩm của quá trình này thường làm nhiễm bẩn môi trường. Vì vậy, hàm lượng oxy trong bể lọc sinh học rất quan trọng.

V. Thực vật thủy sinh
Để cân bằng sinh thái giữa động vật và môi trường sống trong bể kính, các loài cây cỏ sống trong nước hay còn gọi là thực vật thủy sinh thường được trồng trong bể.

5.1 Chọn cây trồng
Việc chọn cây trồng trong bể kiếng để tạo ra cảnh trí đẹp lại đảm bảo sự đa dạng và cân bằng sinh thái trong bể là rất cần thiết theo các yêu cầu sau:
– Thực vật thủy sinh trong bể nuôi cá làm cho nó đẹp và tạo môi trường giống như trong thiên nhiên.

– Một số loài làm thức ăn cho cá.

– Những phần thối rữa làm thức ăn cho động vật không xương sống, rồi đến các loài này làm thức ăn cho cá.

– Thực vật thủy sinh giữ vai trò quan trọng trong việc làm sạch bể kiếng, sự phát triển bình thường của chúng chứng tỏ môi trường nuôi trong bể kiếng tốt.

– Thực vật thủy sinh là nơi cư trú, che bóng và là chổ ẩn nấp cho cá nhỏ khi bị cá lớn tấn công.

– Một số khác làm giá thể cho trứng bám khi cá đẻ.

– Theo Võ Văn Chi (1993) phần lớn các loài cây sử dụng trong bể kiếng được chia làm 3 loại: cây có rễ, cây trôi nổi và cây cho cành giâm.
a) Cây có rễ: Có những cây cao sinh trưởng nhanh tương tự như các cây thảo khác ví dụ như rong mái chèo Vallisneria, rau mác Sagittaria là những loại cây rất lý tưởng để trồng che phía sau và các góc của bể. Còn các loại cây rậm rạp dùng để trồng đầy các góc như rau dừa Ludwigia, đình lịch Hygrophila, rau cần trôi Ceratopteris. Các loại cây này hoàn toàn sống trong nước ngập nên có xu hướng nhân giống bằng hình thức dinh dưỡng, tạo ra những thân bò từ đó phát triển thành cây mới.

b) Cây mọc nổi: Các loài cây này có vai trò có ích trong hồ nuôi cá. Có thể dùng chúng để trang trí, tạo bóng mát cho cá, làm nơi trú ẩn cho cá con trú ẩn và là giá thể cho cá sinh sản. Những loài này thông thường là bèo hoa dâu Azolla, bèo tấm Lemna, bèo phấn Wolffia, bèo tai chuột Salvinia. Những loài có kích thước lớn hơn như bèo cái Pistia stratiotes, rau cần trôi Ceratopteris thalictroides, lục bình Eichhornia crassipes.

c) Cây tạo cành giâm: Ta cắt những ngọn cây của cây có rễ rồi đem trồng trong nền đất của bể. Tại chổ cắt, rễ cây sẽ được hình thành và phát triển thành cây mới. Các loài cây này bao gồm như lá ngò Cabomba, rau ngổ Limnophila, rong đuôi chó Ceratophyllum và rong xương cá Myriophyllum.

5.2 Trồng cây trong bể kính
– Dựa vào đặc điểm sinh sản của các loài thực vật thủy sinh, ta có thể chọn nhiều cách nhân giống khác nhau:
+ Bằng hạt Sagittaria, Alisma, Ottelia.
+ Bằng chồi Sagittaria, Vallisneria.
+ Bằng cành giâm Cabomba, Myriophyllum.
+ Tách cây Alisma.
+ Bằng lá Ceratophyllum, Hygrophila.
+ Bằng chồi sinh sản Myriophyllum.

– Tùy theo loại cây mà chọn cách trồng cho thích hợp. Đá, sỏi và cát cần được rửa sạch trước khi cho vào bể để tránh ô nhiễm nước trong hồ. Có thể dùng đất sét trộn lẫn với cát tạo thành lớp đất nền ở đáy hồ giúp cho cây dính vào.
+ Đối với những cây nổi, ta chỉ cần tách những nhánh nhỏ hay phần phân cắt của cây và thả lên mặt nước.
+ Đối với những cây cứng mọc thẳng không cần nước như Cryptocoryn, Sagittaria, dương xỉ hay những cây có hệ rễ phát triển như súng Nymphaca ta tiến hành như sau: gạt lớp đất trong chậu, đặt cây vào, phủ lớp đất lên trên để ngăn cho chúng không bị bật rễ và nổi lên. Cũng có thể buộc gốc cây vào đá rồi lấp sỏi cát lên để che gốc và hệ rễ.
+ Những cây trồng bén rễ từ thân thì chọn những thân gổ rồi buộc các cây vào xung quanh rồi đưa vào bể. Lưu ý là phải phải ngâm thân gổ trước khi trồng cây lên để tránh những chất nhựa từ thân gổ tiết ra gây độc cho cá.

5.3 Dụng cụ trồng cây và chăm sóc cây
– Trồng cây trong bể kính thì phải sử dụng đất và phân đặc biệt. Sự cân bằng tất cá các yếu tố trong bể nuôi thì quan trọng hơn thực vật, các bể kính đủ ánh sáng để cây sinh trưởng và duy trì sự quang hợp.

– Thông thường phân u-rê và NPK được sử dụng trong cây trồng trong bể kiếng. Tuy nhiên, không nhất thiết phải sử dụng phân này cho thực vật thủy sinh như là cây trồng trong chậu. Bởi vì còn những thức ăn dư thừa hay phân cá phân hủy làm nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây. Cây trồng trong bể không thể thiếu sắt vì nó là thành phần cơ bản tạo thành Chlorophyl.

– Cây cỏ sẽ khó phát triển nếu không có những điều kiện phù hợp. Trong điều kiện tốt cây phát triển nhanh và nhô lên khỏi mặt nước hay lá cây nổi lên mặt nước. Nếu đám rong này phát triển quá mạnh, phát tán và chi nhiều cụm, có xu hướng chiếm nhiều diện tích và khoảng không gian trong bể kiếng thì nên tách hay lấy bớt ra. Nếu lá trở nên úa vàng thì có thể dùng kéo cắt sát gốc để cây đâm chồi mới.

– Các dụng cụ chuyên dùng: chậu, kéo cắt cây, dao, thìa. Ngoài ra, cát, đá sỏi, đất và phân bón là những vật liệu rất cần thiết để trồng cây.

VI. Câu hỏi ôn tập và tư liệu tham khảo
6.1 Câu hỏi ôn tập
– Trình bày chất lượng nước trong nuôi cá cảnh?

– Trình bày cách thiết kế một bể kính nuôi cá cảnh?

– Trình bày các quá trình sinh học xảy ra trong hệ thống bể lọc sinh học?.

6.2 Tài liệu tham khảo
1. Brian Ward, 1985. Aquarium Fish – survival manual. Quill Publishing Limited. 175p

2. Dick Milis, 1999. Kỹ thuật nuôi cá cảnh. Nhà xuất bản văn hóa thông tin. 271 trang

3. Karel Rataj and Thomas J. Horeman, 1977. Aquarium plants. T.F.H. 448p.

4. Malcolm Edwards, 1999. Plants for water gardens. Parragon. 256p.

5. Saigon book, 2005. Rong cảnh thưởng thức & nuôi dưỡng. Nhà xuất bản Đà Nẵng. 102 trang.

6. Nguyễn Việt Thắng, 1996. Lọc sinh học – hướng sử dụng trong sản xuất giống và nuôi tôm. NXB Nông nghiệp.39 Trang.

7. Saigon book, 2004. Cá cảnh thưởng thức và nuôi dưỡng. Nhà xuất bản Đà nẳng. 216 trang.

8. Võ Văn Chi, 1993. Cá cảnh. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật. 307 trang.

Giáo trình Kỹ thuật nuôi cá Cảnh – Phần 1
Giáo trình Kỹ thuật nuôi cá Cảnh – Phần 3
Giáo trình Kỹ thuật nuôi cá Cảnh – Phần 4

Biên soạn: Ts. Bùi Minh Tâm – Giảng viên ĐH Cần Thơ (MSMH: TS331).

BÌNH LUẬN

Làm ơn để lại binh luận của bạn
Để lại tên của bạn tại đây