Hiệu quả từ mô hình nuôi Lươn trong bể lót bạt tại An Giang

Lươn đồng (Monopterus albus) hiện đang là đối tượng thủy sản được nuôi khá phổ biến ở thị xã Tân Châu – An Giang. Theo kết quả điều tra vào tháng 5/2013 của Chi cục Thống kê thị xã Tân Châu, toàn thị xã có 1.151 hộ nuôi lươn với tổng diện tích nuôi là: 56.583 m2. Với diện tích nuôi này, ước tính toàn thị xã có thể cung cấp ra thị trường khoảng trên 200 tấn lươn thương phẩm.

– Mô hình nuôi lươn trong bể lót bạt nilon hoặc bể xi măng là mô hình rất dễ thực hiện, nhất là các hộ dân nghèo không có đất sản xuất nông nghiệp. Người dân đã tận dụng các khoảng đất trống xung quanh nhà hoặc ở dưới sàn nhà để thiết kế bể nuôi và tận dụng thời gian nông nhàn để chăm sóc.

– Trạm Khuyến nông thị xã Tân Châu đã khảo sát trên 35 hộ nuôi lươn ở xã Tân An – Thị xã Tân Châu vào tháng 03/2013 cho thấy, năng suất thu hoạch trung bình của các hộ nuôi là 6,01 kg/m2; hộ có năng suất thu hoạch thấp nhất: 1,6 kg/m2 và hộ có năng suất thu hoạch cao nhất: 12,5 kg/m2.

– Kết quả điều tra cũng cho thấy về hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi này, đã có 97,15% hộ nuôi lươn đều thu được lợi nhuận sau khi thu hoạch; trong đó, hộ có lợi nhuận thấp nhất: 4 triệu đồng/hộ/năm, hộ có lợi nhuận cao nhất là: 48 triệu đồng/hộ/năm. Nếu tính mức lợi nhuận trung bình trên một diện tích nuôi thì các hộ nuôi có mức lợi nhuận trung bình là: 313.600 đồng/m2; hộ có lợi nhuận cao nhất là 625.000 đồng/m2 và thấp nhất là 87.500 đồng/m2.

– Ngoài ra, theo tính toán thống kê, chi phí lưu động trên diện tích bể nuôi của các hộ nuôi trung bình là: 407.500 đồng/m2 và chi phí lưu động để nuôi được 1 kg lươn thương phẩm là: 68.600 đồng/kg. Như vậy, với giá bán lươn thịt dao động từ 108.000 – 124.000 đồng/kg, các hộ nuôi lươn có thể có lợi nhuận từ 39.400 – 55.400 đồng/1 kg lươn thương phẩm.

thu hoach luon

– Theo đánh giá, mô hình nuôi lươn thương phẩm là một trong những mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế. Mô hình này còn có ý nghĩa trong việc giải quyết việc làm và góp phần nâng cao thu nhập cho đời sống hộ gia đình ở nông thôn. Tuy nhiên, mô hình này còn tiềm ẩn nhiều rủi ro như: Con giống còn phụ thuộc rất lớn vào nguồn giống khai thác từ tự nhiên, giá lươn giống tăng do nhu cầu tăng nhưng nguồn cung ngoài tự nhiên có chiều hướng khan hiếm, tỷ lệ hao hụt cao trong thời gian đầu thả giống và việc tiêu thụ cũng như giá cả đầu ra còn thiếu ổn định vì hiện nay tất cả các hộ nuôi đều bán lươn thương phẩm cho thương lái và giá bán lươn thịt ở năm 2013 thấp hơn so với năm 2012 trong khi giá các nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là giá thức ăn lại gia tăng.

– Vì thế, để mô hình này tiếp tục phát triển trong thời gian tới thì cần có những nghiên cứu tìm ra giải pháp kỹ thuật để chủ động tạo ra nguồn giống lươn nhân tạo vì nếu tiếp tục khai thác nguồn giống tự nhiên sẽ dẫn đến sự cạn kiệt nguồn lươn giống ở tự nhiên.

– Ngoài ra, cần có sự liên kết chuỗi giá trị từ cơ sở cung cấp lươn giống nhân tạo, cơ sở kinh doanh thức ăn – thuốc thú y đến người nuôi và đến cơ sở thu mua lươn thương phẩm để duy trì và phát triển một mô hình nuôi thủy sản đang có hiệu quả, nhằm góp phần đa dạng hóa các giống loài nuôi thủy sản và cũng nhằm thực hiện thắng lợi Tiêu chí 11 về tăng thu nhập bình quân đầu người/năm của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

Hiệu quả từ mô hình nuôi lươn trong bể lót bạt tại An Giang.

BÌNH LUẬN

Làm ơn để lại binh luận của bạn
Để lại tên của bạn tại đây