Kỹ thuật nuôi Cá – Lúa

Kỹ thuật nuôi Cá – Lúa

I. Đặc điểm sinh học của một số đối tượng cá nuôi
1.1 Cá chép
– Cá chép phân bố rộng, xuất hiện gần như khắp các nước trên thế giới. Cá chép sống chủ yếu trong nước ngọt nhưng cũng sống được ở nước lợ có nồng độ muối thấp.

– Cá chép là loài cá rộng nhiệt, nhưng nhiệt độ thích hợp cho cá chép từ 20 – 28 độ C, sống được ở độ pH từ 5,5 – 8,5 và độ pH thích hợp cho cá là 7 – 8. Cá cũng sống được ở nước tĩnh có hàm lượng oxy thấp hay ở sông nơi có nước chảy thường xuyên.

– Cá chép là loài ăn tạp thiên về động vật đáy như: nhuyễn thể, giun, ấu trùng côn trùng, mùn bã hữu cơ, mầm non và củ thực vật… Cá cũng ăn được nhiều loại thức ăn do con người cung cấp như bột ngũ cốc các loại, bột cá, bột tôm, rau, bèo, phân động vật, đồ thừa nhà bếp, phụ phẩm lò mổ…

– Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cá chép nuôi ở ruộng ngập nước vào mùa mưa sau 8 – 9 tháng có thể đạt trọng lượng 0,5 – 0,8 kg/con, có con nặng hơn 1 kg.


1.2 Cá rô đồng
– Rô đồng là loài cá nước ngọt, sống ở vùng nhiệt đới. Ở Việt Nam cá rô đồng rất phổ biến ở Miền Bắc và Miền Nam.
Ngoài tự nhiên cá sống trong ao, hồ, mương vườn, ruộng, ngoài ra có thể sống ở các cửa sông lớn…Trong điều kiện nhân tạo cá rô sống được trong bể xi măng, ao mương có diện tích nhỏ…

– Rô đồng là loài cá ăn tạp thiên về động vật. Thức ăn như: tôm, tép, cá con, phù du phiêu sinh vật, động vật không xương sống, hạt cỏ, lúa, các phụ phẩm nông nghiệp như cám, gạo, các phế phẩm nhà máy chế biến thuỷ sản…

– Cá rô đồng có tốc độ sinh trưởng tương đối chậm, sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng từ 60 – 100 g/con.


1.3 Cá sặc rằn
– Cá sặc rằn sống ở nước ngọt nhưng có thể sống được ở nước lợ, chúng sống ở ao, đìa, ruộng lúa…

– Cá sặc rằn ăn tạp thiên về thực vật, thức ăn của cá là động vật phiêu sinh, các chất hữu cơ lơ lửng trong nước, tảo phù du, phân động vật…

– Sau 1 năm nuôi cá đạt trọng lượng 50 – 100 g/con. Sau 18 – 24 tháng cá đạt trọng lượng 100 – 150 g/con.


1.4 Cá rô phi
– Cá rô phi là loài đặc trưng ở vùng nhiệt đới rất thích hợp với điều kiện môi trường sống ở Việt Nam và hiện là đối tượng nuôi quan trọng cho nhiều mặt nước trong nội địa và vùng ven biển nước ta.

– Ở giai đoạn trưởng thành cá ăn tạp. Thức ăn gồm: mùn bã hữu cơ, tảo lắng ở đáy, ấu trùng côn trùng, giun, sinh vật phù du. Trong ao nuôi cá cũng ăn thức ăn nhân tạo, phân gia súc, gia cầm…

– Cá rô phi vằn và cá rô phi đỏ lớn nhanh hơn cá rô phi trắng. Trong cùng một điều kiện nuôi cá đực thường lớn nhanh hơn cá cái. Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cá rô phi vằn Oreochromis niloticus sau 5 – 6 tháng đạt 400 – 600g/con, rô phi đỏ và rô phi dòng GIFT 600-800g/con.


1.5 Cá mè trắng
– Cá mè trắng là loài cá đặc trưng của khu hệ cá đồng bằng. Trong thủy vực cá phân bố chủ yếu ở tầng mặt và tầng giữa. Cá thích sống trong môi trường nước thoáng, rộng, nước sâu, hàm lượng oxy cao, nhiệt độ thích hợp là 22 – 25 độ C, pH = 7 – 8.

– Khi trưởng thành cá ăn thực vật phù du là chính, ngoài ra còn ăn thêm động vật phù du và chất hữu cơ lơ lững. Trong ao nuôi cá cũng ăn thêm thức ăn như cám mịn, bột hay sữa đậu nành.

– Ở Đồng Bằng sông Cửu Long, trong điều kiện những ao rộng hay ở ruộng lúa ngập nước sâu vào mùa mưa cá lớn rất nhanh, sau 1 năm đạt 0,8 – 1 kg/con.


1.6 Cá mè vinh
Cá mè vinh là loài cá ăn tạp, thức ăn của chúng bao gồm thực vật thủy sinh (rau muống, bèo, rong,…), côn trùng, ngoài ra cá cũng ăn thức ăn chế biến.
Cá tăng trưởng tương đối nhanh, sau 6 – 8 nuôi đạt trọng lượng bình quân 0,3 kg/con.


II. Thiết kế mô hình Cá – Lúa
2.1 Chọn vị trí xây dựng
Khi chọn địa điểm để nuôi cá cần lưu ý một số yếu tố sau:
– Nguồn nước: vấn đề quan trọng hàng đầu trong nuôi cá là phải đảm bảo nguồn nước tốt và cấp tiêu chủ động. Một điều cần lưu ý khi chọn điểm nuôi cá là phải biết được sự biến động của nguồn nước theo mùa và theo năm, đặc điểm khí tượng thuỷ văn của vùng để có thể dự đoán và ngăn chặn thất thoát cá nuôi trong mùa lũ hoặc mùa mưa bão.

– Chọn đất có cơ cấu chất đất phải giữ được nước và ít bị nhiễm phèn.

– Lịch thời vụ sản xuất nông nghiệp của vùng để biết được mức độ ô nhiễm hiện tại và tiềm tàng do sử dụng nông dược. Những nơi sử dụng nhiều nông dược nhất là thuốc trừ sâu có tính lưu dẫn cao và thời gian phân hủy kéo dài sẽ làm ảnh hưởng đến cá nuôi. Khu vực nuôi cá nếu tiếp giáp với khu sản xuất màu sẽ có nguy cơ bị nhiễm độc nông dược do phun xịt hay khi cấp nước vào khu nuôi cá.

– Tiện đi lại và chăm sóc quản lý.

2.2 Thiết kế ruộng nuôi
Diện tích ruộng khoảng 0,3 – 2 ha tùy theo điều kiện cụ thể.
Có thể thiết kế theo nhiều dạng như: dạng mương chữ L, dạng mương trung tâm, dạng mương xương cá …
Trong mô hình này để tiện lợi và đạt hiệu quả cao nên chọn dạng mương bao và ao trữ.

a) Bờ bao quanh
Bờ bao quanh được đắp với diện tích như sau:
– Chiều rộng mặt bờ 1 – 2 m

– Chiều rộng chân bờ 2 – 4 m

– Chiều cao bờ phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm 20cm

– Có thể đi lại trên bờ để chăm sóc, quản lí ruộng.

b) Mương bao quanh
Mương bao quanh được thiết kế như sau:
– Đào cách bờ 0,5 m để tránh đất đá xoáy lở từ bờ xuống mương

– Chiều rộng mương: Bề rộng mặt 3m; Bề rộng đáy là 2,5m

– Chiều sâu mương bao là 1,2 m

– Mương dốc thấp dần về phía cống.

c) Cống
Mỗi ruộng cần có một cống, cống có thể bằng xi măng, ống sành hay gỗ tuỳ điều kiện gia đình, tốt nhất nên dùng cống xi măng. Tác dụng của cống:
– Chủ động điều tiết ruộng nước cấp và thoát nước cho ruộng.

– Tháo nước cho ruộng lúa khi xạ, cấy lúa, sử dụng thuốc trừ sâu và khi thu hoạch.

d) Mặt trảng
– Là phần mặt ruộng còn lại dùng để trồng lúa. Để thuận lợi cho việc canh tác lúa điều chỉnh mức nước trên ruộng, mặt ruộng cần bằng phẳng.

– Nếu có điều kiện thì thiết kế ao chứa ở đầu ruộng, gần nhà. Có tác dụng giữ cá lúc lúa nhỏ và trữ cá lại chờ cá lớn hoặc chờ giá cao để bán


III. Mô hình nuôi luân canh trên ruộng(một vụ lúa – một vụ cá hoặc hai vụ lúa – một vụ cá)
– Ưu điểm:
+ Lợi nhuận từ nuôi cá cao hơn canh Tác lúa.
+ Tăng độ phì nhiêu của đất do thức ăn, phân của cá tích lũy ở mặt ruộng.
+ Giảm chi phí cho chuẩn bị ruộng và phân bón cho vụ Đông – Xuân.

– Hạn chế
+ Chi phí đầu tư ban đầu lớn cho công trình, đê bao và lưới chắn.
+ Vốn đầu tư cao về con giống cũng như thức ăn, chăm sóc, bảo vệ.
+ Yêu cầu người nuôi phải hiểu biết đối tượng nuôi và quy trình kỹ thuật ứng dụng.


IV. Kỹ thuật nuôi Cá – Lúa
4.1 Chuẩn bị ruộng nuôi
– Trong qui trình nuôi cá thì chuẩn bị ruộng nuôi là khâu quan trọng ảnh hưởng quyết định đến năng suất cá nuôi

– Với mô hình nuôi này thì sau khi thu hoạch lúa tiến hành sên vét lớp bùn đáy ở mương bao. Cho nước vào ngập ruộng ngâm vài ngày rồi xả bỏ. Những ruộng có hệ thống mương bao mới đào thì cần lấy nước vào ngâm vài lần để rửa phèn.

– Bón vôi: sử dụng vôi nung (CaO) 5 – 7 kg/100m2. Bón vôi sau khi đáy mương bao đã được tát cạn, vôi được rải khắp mương và bờ ruộng. Bón vôi ngoài việc diệt tạp, tiêu độc đáy mương nó còn tạo điều kiện pH cao thích hợp trong việc tạo thức ăn tự nhiên ban đầu có ích cho cá nuôi giai đoạn nhỏ.

– Phơi mặt ruộng và đáy mương bao khoảng 2 – 3 ngày, tránh phơi quá lâu mặt ruộng bị nứt nẻ làm xì phèn.

– Cấp nước vào ruộng nuôi phải qua lưới lọc (lưới cước a = 0,3 mm) để ngăn chặn địch hại và tép cá tạp vào làm giảm sản lượng nuôi và cạnh tranh thức ăn. Khi mực nước trong mương bao đạt 1,2 m thì tiến hành thả giống.

4.2 Chọn loài cá nuôi – mật độ thả
– Mặc dù phần lớn các loài cá nước ngọt đều có thể chọn nuôi trong ruộng. Tuy nhiên khi chọn loài cá thả nuôi cần lưu ý:

– Đối tượng nuôi phải có khả năng thích nghi, phát triển tốt và ăn các loại thức ăn tự nhiên có sẵn trong ruộng.

– Khả năng đầu tư thức ăn, phân bón của người nuôi.

– Đảm bảo số lượng giống thả.

– Điều quan trọng là thị hiếu của người tiêu dùng và nhu cầu thị trường.

– Các đối tượng hiện nay được nuôi trong ruộng lúa là: chép, mè vinh, mè trắng…hay một số loài có giá trị kinh tế cao hơn như: cá thát lát là đối tượng đang được người nuôi quan tâm hiện nay.

– Mật độ thả nuôi tuỳ thuộc vào độ màu mỡ của nước và lượng thức ăn cung cấp. Nếu ruộng nuôi có đầu tư thức ăn thì mật độ thả từ 2 – 10 con/m2, nếu chỉ đầu tư thức ăn trong 1 – 2 tháng đầu, sau đó tận dụng lúa chét thì mật độ thả từ 0,2 – 1 con/m2. Nuôi mật độ thấp, ít sử dụng nguồn thức ăn ngoài (thức ăn viên) góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

– Chất lượng con giống rất quan trọng, do đó phải chọn cá khỏe, có kích cỡ tương đối đồng đều, màu sắc sáng, bơi lội nhanh nhẹn. Cỡ cá từ 150 – 200 con/kg.


Đối với công thức nuôi ghép này việc tận dụng lúa chét làm thức ăn là chủ yếu, chỉ bổ sung thức ăn viên trong 1 – 2 tháng đầu.

4.3 Thời gian thả cá
– Nuôi cá tận dụng chét thì sau khi sạ lúa hè thu 1 – 2 tháng có thể tiến hành thả cá ở mương bao hay ao trữ, sau khi thu hoạch lúa, dâng nước cho cá lên ruộng.

– Nuôi cá lúa luân canh thì sau khi thu hoạch lúa đông xuân hay hè thu thì tiến hành thả giống.

– Vận chuyển và thả giống: Nên vận chuyển cá lúc trời mát để tránh gây tổn thương cho cá. Nên thả cá lúc sáng sớm hay chiều mát. Trước khi thả cá cần ngâm bao trong nước ao từ 20 – 30 phút để cân bằng nhiệt độ bên trong bao và bên ngoài môi trường nước. Khi nhiệt độ bên trong và bên ngoài bao tương đối cân bằng thì mở miệng bao cho nước bên ngoài vào trong bao, sau đó hạ từ từ cho cá bơi ra ngoài.

– Quản lý cá nuôi: Thường xuyên theo dõi, kiểm tra hoạt động của cá.

4.4. Quản lý chất lượng nước
– Điều tiết nước trên ruộng: Tháng đầu không thay nước hay châm thêm nước; tháng 2 – 3 thay nước 2 lần/tháng theo con nước cường; tháng 4 – 5 thay nước 4 lần/tháng theo thủy triều; tháng 6 – 7 thay nước 6 lần/tháng. Nếu nuôi cá mật độ thấp, chế độ thay nước 2 lần/tháng theo thủy triều. Cần duy trì mức nước trên ruộng tối thiểu 0,4 m nhằm ổn định nhiệt độ nhất là trong mùa nắng.

– Thay nước: Thay nước khi chất lượng nước xấu đi, nước có mùi hôi,… cá nổi đầu vào sáng sớm, chỉ nên thay nước khoảng 20 – 30% để tránh tình trạng cá bị sốc. Việc thay nước sẽ tăng thêm oxy, giảm các chất độc trong hệ thống nuôi, kích thích cá hoạt động và bắt mồi. Lưu ý khi thay nước phải xác định được nguồn nước cấp có đảm bảo yêu cầu hay không để tránh tình trạng làm xấu đi hoặc ô nhiễm chất lượng nước trong ruộng nuôi. Vào đầu mùa mưa, mùa lũ thường xuyên kiểm tra đăng, cống,… dọn cỏ quanh bờ bao tránh để nước dâng cao ngập cỏ gây phân huỷ làm thiếu oxy.
trên ruộng tối thiểu 0,4 m nhằm ổn định nhiệt độ nhất là trong mùa nắng.

– Nhiệt độ: Để nhiệt độ trên mặt ruộng không biến động lớn, mực nước tối thiểu phải đạt được là 40 cm.

– Oxy: Trong ruộng nuôi lượng oxy hoà tan trong nước có sự biến động giữa ngày và đêm, thấp nhất vào lúc sáng sớm và cao nhất lúc 14 giờ chiều. Cần đảm bảo hàm lượng oxy cao trong ruộng nuôi. Biện pháp để tăng cường và ổn định oxy ở mức cao là thay nước khi nước có màu quá xanh hay xám.

– pH: pH trong hệ thống nuôi biến động theo sự phát triển của tảo. pH tăng khi tảo quang hợp và phát triển mạnh. Những cơn mưa đầu mùa, nhất là đối với những hệ thống nuôi mới xây dựng, sẽ rửa phèn từ bờ xuống hệ thống nuôi làm pH giảm. Ngoài ra sự phân huỷ mùn bả hữu cơ ở đáy ao cũng làm cho pH ở tầng này thấp. Dùng vôi CaO 7 – 10 kg/100m2 rải quanh bờ trước những cơn mưa lớn. Nếu pH nước xuống dưới 7 thì dùng vôi nông nghiệp CaCO3 hoặc Dolomite (đá vôi đen – CaMg(CO3)2) bón với lượng 2 – 3 kg/100m2.

4.5. Thu hoạch
– Sau 5 – 7 tháng nuôi, bơm nước hạ dần mức nước ruộng để cá tập trung xuống mương bao, sau đó dùng lưới kéo, số còn lại tát cạn và thu hoạch bằng tay.

– Năng suất cá nuôi từ 0,5 – 1 tấn/ha. Năng suất cá nuôi dao động tùy thuộc vào đối tượng thả nuôi và mức độ đầu tư thức ăn.

V. Một số lưu ý trong phòng bệnh cho cá nuôi
Nguyên nhân cá bị bệnh: cá mắc bệnh là kết quả tương tác giữa ba nhân tố: Môi trường, tác nhân gây bệnh và ký chủ (bản thân cá).
– Yếu tố môi trường: sự biến động lớn về nhiệt độ, pH, và hàm lượng oxy thấp sẽ gây sốc hoặc làm cho cá suy yếu.

– Tác nhân gây bệnh: bao gồm bệnh truyền nhiễm (virus, vi khuẩn, nấm), bệnh ký sinh trùng (nguyên sinh động vật, giun sán, giáp xác…) và các sinh vật gây nguy hiểm cho cá (côn trùng nước, cá dữ, rắn, ếch, chim…) làm tổn thương đến cá tạo điều kiện cho bệnh ký sinh hay bệnh truyền nhiễm phát triển.

– Yếu tố ký chủ: sức đề kháng của cá đối với bệnh.

– Yếu tố con người.

+ Kỹ thuật nuôi: Vận chuyển đánh bắt làm tổn thương cá.
+ Quản lí chăm sóc không tốt, mật độ thả nuôi quá cao.

* Một số vấn để hạn chế dịch bệnh xảy ra cho cá cần làm tốt các khâu:
– Cải tạo ruộng nuôi: nhằm hạn chế mầm bệnh phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho cá phát triển.

– Chọn giống tôt và xử lý cá: không nên thả cá mật độ quá dầy, tốt nhất là 1 – 2 con/m2. Cở cá thả từ 250 – 300 con/kg; cá khỏe, không dị hình, không bị xây sát. Cá khi mới mang về tắm trong nước muối, pha 15g muối trong 1 lít nước, ngâm cá trong 15 phút (lưu ý không được để cá thiếu oxy trong khi đang ngâm cá).

– Chuẩn bị tốt vào thời điểm giao mùa hay mùa mưa bảo; vào thời điểm giao mùa khả năng chống bệnh của cá yếu, các mầm bệnh dễ phát triển, cá dễ bị nhiễm bệnh. Bón vôi quanh bờ vào đầu mùa mưa, dọn cỏ quanh bờ.

– Thay nước: khi thay nước cần lưu ý phải đảm bảo nguồn nước tốt, chỉ thay nước khi cần thiết để tránh làm sốc cá; mỗi lần thay chỉ thay khoảng 20 – 30% tổng lượng nước trong ruộng nuôi.

– Chăm sóc cá tốt để tăng sức đề kháng bệnh: cho cá ăn đầy đủ về số lượng thức ăn cũng như thành phân dinh dưỡng phải đảm bảo. Vào những ngày thời tiết xấu nên giảm lượng cho ăn và tăng cường thức ăn giàu dinh dưỡng.

Kỹ thuật nuôi cá – lúa, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

BÌNH LUẬN

Làm ơn để lại binh luận của bạn
Để lại tên của bạn tại đây