Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh luân canh

Kỹ thuật nuôi Tôm càng xanh, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

1. Chọn lựa địa điểm để nuôi tôm
– Nguồn nước đảm bảo cấp tiêu chủ động.

– Bờ bao phải giữ được nước và chất đất ít nhiễm phèn.

– Không bị ảnh hưởng bởi nước thải công nghiệp và nước bẩn.

– Tiện đi lại và chăm sóc quản lý.

2. Thiết kế công trình
– Diện tích ruộng nuôi tuỳ theo từng điều kiện cụ thể thường dao động 0,5 – 5 ha.

– Ruộng phải có đê bao đảm bảo giữ mức nước trên ruộng tối thiểu 0,5m đối với ruộng có mương bao và 0,8 m đối với ruộng không mương bao.

– Đối với ruộng nuôi có mương bao, diện tích mương bao chiếm 20 – 25% tổng diện tích ruộng. Đối với ruộng không có mương bao tốt nhất nên có một khu vực ương riêng (vị trí ao ương thường nằm ngay bên cạnh ao nuôi).

– Ruộng nuôi có cống cấp và thoát riêng.


3. Chuẩn bị ruộng nuôi

– Sau khi thu hoạch lúa, dọn sạch gốc rạ, trải đều rơm ra khắp ruộng và đốt trước khi đưa tôm lên ruộng 7 ngày; dọn cỏ xung quanh bờ bao; sên vét bùn đáy ở mương bao.

– Bón vôi: sử dụng CaO 10 – 15 kg/100 m2. Vôi được rãi khắp mương bao và bờ ruộng.

– Phơi mương bao 2 – 3 ngày.

– Cấp nước qua lưới lọc mịn. Khi nước trong mương bao đạt 1 – 1,2 m hay 0,8m (đối với ruộng không có mương bao), sau 2 – 3 ngày sau tiến hành thả giống.

4. Mùa vụ nuôiMô hình 1 vụ lúa đông xuân 1 vụ tôm thường bắt đầu thả giống tháng 3-4 sau khi thu hoạch lúa đông xuân, thời gian nuôi 5 – 6 tháng.

5. Cách chọn tôm giống
– Tôm nuôi phải khỏe mạnh không có dấu hiệu bị nhiễm bệnh.

– Chiều dài thân từ 10 – 15 mm (Post 15).

– Tôm có màu cam nhạt hoặc màu xanh trong suốt.

– Hình thái cấu tạo ngoài đã hoàn chỉnh như tôm trưởng thành, thân và các phụ bộ bên ngoài không bị tổn thương.

– Tôm hoạt động mạnh bơi ngược dòng nước, thường bám vào thành bể, háo ăn và bắt giữ thức ăn tốt.

6. Thả giống

– Đối với tôm bột P15 nên ương 2 – 3 tuần trong ao ương trước khi cho ra ruộng nuôi, nếu không có ao ương riêng có thể ngăn một phần ruộng nuôi bằng lưới để ương hay một phần mương bao nhằm hạn chế hao hụt và tiện chăm sóc.

– Mật độ ương: 300 – 500 con/m2.

– Mật độ thả nuôi: 5 – 10 con/m2 (tính cho cả ruộng).

– Thả tôm lúc sáng sớm hay chiều mát. Trước khi thả tôm cần ngâm bao tôm trong nước ao từ 20 – 30 phút để cân bằng nhiệt độ bên trong bao và bên ngoài môi trường nước. Khi nhiệt độ bên trong và bên ngoài bao tôm tương đối cân bằng thì mở miệng bao cho nước bên ngoài vào trong bao, sau đó hạ từ từ cho tôm bơi ra ngoài.

– Không nên thả tập trung mà phải thả nhiều nơi và cách bờ khoảng 2,0m.

7. Thức ăn
– Một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong nuôi tôm là thức ăn. Tôm cần phải được cung cấp thức ăn đầy đủ về số lượng và chất lượng để có thể phát triển tốt. Vì vậy việc xác định nguồn thức ăn đảmbảo giá trị dinh dưỡng và ổn định là điều cần thiết đối với người nuôi tôm.

– Thức ăn tự nhiên: là thức ăn có sẵn trong thủy vực bao gồm động thực vật thủy sinh, thức ăn tự nhiên giữ vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu của các đối tượng thuỷ sản nuôi.

– Thức ăn tươi: bao gồm cá, tép, cua, ốc bươu vàng, hến,cá tạp… các phế phẩm từ nhà máy chế biến thủy sản. Thức ăn tươi rất dễ làm chất lượng nước xấu đi nhanh chóng, hệ số tiêu tốn thức ăn cao. Đối với thức ăn tươi sống như cua, cá tạp, tép, ốc,… trước khi cho ăn phải được rửa sạch và đặt trong sàn ăn để hạn chế ô nhiễm nước.

– Thức ăn viên (công nghiệp), thức ăn chế biến: các thành phần dinh dưỡng đã được phối chế phù hợp với từng giai đoạn tăng trưởng của đối tượng nuôi. Qui trình công nghệ sản xuất thức ăn hiện đại đảm bảo chất lượng thức ăn, thời gian bảo quản lâu, hệ số thức ăn thấp, ít ảnh hưởng đến chất lượng nước trong hệ thống nuôi.

– Trong quá trình nuôi nên kết hợp thức ăn viên và thức ăn tươi sống.

a. Thức ăn cho tôm giai đoạn còn nhỏ (1 tháng đầu):
Dùng thức ăn viên có hàm lượng đạm 35%. Thức ăn được rãi đều khắp ao. Lượng cho ăn lúc mới thả giống chiếm 30% trọng lượng thân. Cho ăn 4 lần/ngày.

b. Thức ăn cho tôm giai đoạn lớn (tháng thứ 2 đến thu hoạch):

– Sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm là 30% khi tôm 2 – 3 tháng tuổi, 25% khi tôm 4 – 6 tháng tuổi.

– Bổ xung thức ăn tươi cho tôm chỉ nên cho tôm ăn 1 lần vào buổi trưa từ tháng thứ 2 – 3 trở đi. Lượng cho ăn gấp 3 – 4 lần so với thức ăn viên. Thức ăn tươi nên băm từng miếng nhỏ và rửa sạch trước khi cho ăn; nên cho ăn trong sàn để loại bỏ thức ăn thừa và dễ dàng kiểm tra điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày.

– Định kỳ 1 tuần/lần bổ sung vitamin C để tăng sức đề kháng cho tôm.

– Hạn chế sử dụng thuốc, hóa chất trong xử lý nước và phòng trị bệnh cho tôm trong danh mục cho phép của Bộ Nông nghiệp và PTNT.

8. Chăm sóc quản lý
a. Quản lý môi trường
– Nhiệt độ: khoảng tháng 3 – 5 là thời điểm nắng nóng, nhiệt độ nước trên ruộng rất cao, đôi lúc lên đến 37 – 38oC làm ảnh hưởng đến sự phát triển của tôm. Ngoài ra khi nhiệt độ tăng cao sẽ làm giảm oxy và làm tăng hàm lượng khí độc. Để giảm tình trạng nhiệt độ tăng cao cần lưu ý độ sâu của mương bao phải giữ được mực nước 1,0 – 1,2 m, mức nước trên ruộng <0,6m. – Oxy: trong ruộng nuôi tôm lượng oxy hoà tan trong nước có sự biến động giữa ngày và đêm, nói chung vào thời điểm sáng sớm khi mặt trời chưa lên là lúc oxy thấp nhất. Tôm càng xanh có nhu cầu hàm lượng oxy trong nước cao (>3mg/L), do đó không được để màu nước quá xanh hay xám đen. Thường xuyên kiểm tra tôm vào ban đêm và lúc sáng sớm để xem tôm có bị thiếu oxy hay không. Biện pháp để tăng cường và duy trì hàm lượng oxy ở mức cao là thay nước và điều chỉnh màu nước.

– pH: pH trong hệ thống nuôi biến động theo sự phát triển của tảo. pH tăng khi tảo quang hợp và phát triển mạnh. Những cơn mưa đầu mùa, nhất là đối với những hệ thống nuôi mới xây dựng, phèn từ bờ xuống hệ thống nuôi làm pH giảm. Ngoài ra sự phân huỷ mùn bả hữu cơ ở đáy ao cũng làm cho pH ở tầng này thấp. Dùng vôi CaO 7 – 10Kg/100 m2 rải quanh bờ trước những cơn mưa lớn. Định kỳ bón vôi CaCO3 hoặc Dolomite (đá vôi đen) CaMg(CO3)2 với lượng 1 – 2 Kg/100 m3 để ổn định pH.– Thay nước: Việc thay nước sẽ tăng thêm oxy, giảm các chất độc trong hệ thống nuôi. Ngoài ra việc thay nước sẽ kích thích tôm bắt mồi và lột xác.

– Chế độ thay nước: Thay nước được thực hiện tùy theo tình trạng phát

triển của tôm nuôi. Tháng đầu tiên không thay nước hoặc chỉ cấp thêm khi nước hao hụt, tháng thứ 2 – 3 định kỳ hàng tuần cấp thêm nước hoặc thay nước 20 – 30%. Vào tháng thứ 4 đến khi thu hoạch, chế độ thay nước tăng dần tuỳ vào chất lượng nước và sức khỏe của tôm nuôi.

– Vào đầu mùa mưa, mùa lũ thường xuyên kiểm tra đăng, cống,… dọn cỏ quanh bờ bao tránh để nước dâng cao ngập cỏ gây phân huỷ làm thiếu oxy.

b. Kiểm tra tôm nuôi:
– Hàng tháng cân đo tôm để xác định tốc độ tăng trọng, kiểm tra mức độ sử dụng thức ăn của tôm hàng ngày từ đó điều chỉnh phù hợp.

– Thường xuyên kiểm tra sức khoẻ của tôm để kịp thời phát hiện các dấu hiệu bệnh như thối đuôi, các phụ bộ bị ăn mòn, tôm đóng rong, tôm phát triển chậm,… Việc làm này rất quan trọng để có biện pháp xử lý kịp thời nếu có sự cố xảy ra.
c. Quản lý địch hại:

Địch hại bao gồm cá tạp, cá dữ, cua, rắn, ếch, chim,… tấn công trực tiếp đến tôm (hay gián tiếp cạnh tranh thức ăn). Để hạn chế các đối tượng này bờ bao cần có lưới chắn và nước trước khi vào phải qua hệ thống lưới lọc. Trong quá trình nuôi nếu có cá tạp thì dùng lưới, dớn để bắt.

9. Thu hoạch
Sau 3 – 4 tháng nuôi tiến hành thu tỉa tôm cái, tôm lớn và tôm chậm phát triển. Sau 5 – 6 tháng nuôi có thể tiến hành thu hoạch toàn bộ. Tuy nhiên không thay nước trước khi thu hoạch 7 – 10 ngày nhằm hạn chế tôm lột xác nhiều, góp phần nâng cao chất lượng tôm nuôi.

BÌNH LUẬN

Làm ơn để lại binh luận của bạn
Để lại tên của bạn tại đây