Kỹ thuật sản xuất giống và ương nuôi cá Lóc

Hiện nay, cá Lóc được nuôi phổ biến trong ao, bè gồm một số loài sau: cá Lóc bông (Channa micropletes), cá Lóc đen (C. striata) và cá Lóc môi trề (Channa sp). Cá Lóc là đối tượng nuôi quan trọng và là nguồn thực phẩm tốt cho người dân.

1. Đặc điểm sinh học
- Cá Lóc sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao hồ, đầm, sông, thích nghi được cả với môi trường nước đục, tù, nươc lợ, có thể chịu đựng được ở nhiệt độ trên 30oC. Cá thích ở nơi có nhiều rong đuôi chó, cỏ, đám bèo, vì ở nơi đây cá dễ ẩn mình rình mồi. Vào mùa hè cá thường hoạt động và bắt mồi ở tầng nước mặt. Mùa đông cá hoạt động ở tầng nước sâu hơn.

ca loc dong

- Cá Lóc là loài cá dữ có kích thước lớn. Lược mang dạng hình núm. Thực quản ngắn, vách dày, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn. Cá là loài cá dữ, ăn động vật điển hình. Quan sát ống tiêu hóa của cá cho thấy cá chiếm 63,01%, tép 35,94%, ếch nhái 1,03% và 0,02 % là bọ gạo, côn trùng và mùn vã hữu cơ.

- Sau khi nở, luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên tốt nhất của cá bột. Giai đoạn cá lớn cá thường ăn cá, tép nhỏ, côn trùng…

- Cá Lóc 1 – 2 tuổi bắt đầu đẻ trứng, mùa vụ sinh sản từ tháng 4 – 8, tập trung vào tháng 4 – 5. Cá thường đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào, nơi yên tỉnh có nhiều thực vật thủy sinh. Sức sinh sản của cá Lóc tương đối lớn khoảng 20.000 – 50.000trứng/kg cá cái. Ở nhiệt độ 20 – 30oC sau 2 ngày trứng nở thành cá bột, khoảng 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài.

2. Kỹ thuật sinh sản cá Lóc
2.1 Sinh sản bằng phương pháp bán nhân tạo
2.1.1 Chọn cá bố mẹ
- Vào đầu mùa mưa, khi cá đã thành thục sinh dục, sẳn sàng đẻ trứng thì bắt cá cho đẻ. Quá trình chọn cá bố mẹ cho sinh sản như sau:

- Chọn những cá bố mẹ khỏe mạnh, không xay sát.

- Chọn cá đực, cá cái:
+ Cá cái: bụng to mềm, lỗ sinh dục lõm và có màu hồng.
+ Cá đực: mình thon dài, màu sắc sáng, lỗ sinh dục hơi lồi, có màu hồng.

ca loc bo me

2.1.2 Kích thích sinh sản
Cá bố mẹ đã chọn lựa kỷ, đem thả vào ao sinh sản đã được cải tạo sẳn. Kích cỡ ao sinh sản thường vài chục đến vài trăm m2. Mật độ thả trung bình 10m2/1 cặp cá bố mẹ. Kích thích sinh sản bằng cách thay nước (100%/ngày) liên tục trong vài ngày. Thông thường nếu chọn cá bố mẹ thành thục tốt thì sau khoảng từ 2 – 5 ngày cá sẽ sinh sản. Sau khi cá đẻ xong có thể vớt trứng đem lên ấp nhân tạo hoặc có thể chờ sau khi cá nở khoảng 3 – 10 ngày thì vớt cá con đem ương. Đây là cách sinh sản có Lóc tương đối đơn giản và được nhiều nông dân ở vùng ĐBSCL áp dụng.

2.2 Sinh sản nhân tạo
2.2.1 Chọn cá bố mẹ
Giống như cách chọn cá bố mẹ ở mục 2.1.1. Tuy nhiên đối với cá cái có thể sử dụng que thăm trứng để kiểm tra trứng cá. Chỉ chọn những cá cái có trứng tròn đều, kích thước đường kính trứng từ 1,1 – 1,2mm.

2.2.2 Chuẩn bị dụng cụ sinh sản
Có thể sử dụng bể xi măng, bể composite… để cho cá Lóc sinh sản. Bể cho sinh sản được rửa sạch, lấy nước sạch với chiều sâu 50 – 60cm.Cho vào bể đẻ một ít rễ lục bình hoặc dây nylon để làm giá thể.

2.2.3 Kích thích sinh sản
- Dùng HCG với liều lượng là 3.000 – 3.500UI HCG/1kg cá cái hoặc não thùy cá với liều lượng khoảng 2 – 3mg/kg cá cái đề tiêm cá. Cá cái được tiêm 2 liều, liều sơ bộ bằng 1/3 tổng liều và cách liều quyết định khoảng 5 – 6 giờ. Cá đực tiêm bằng 1/3 liều cá cái và cùng thời điểm với tiêm liều quyết định của cá cái. Vị trí tiêm cá là ở gốc vi ngực. Sau khi tiêm thuốc xong cho cá vào bể đẻ, mỗi bể 1 cặp cá. Cần đậy bể thật kỹ, tránh cá nhảy ra ngoài.

- Sau khi chích thuốc khoảng 17 – 21giờ cá sẽ đẻ trứng. Chờ cá đẻ xong, vớt trứng sang bể ấp ở nơi khác.

2.2.4 Ấp trứng cá
- Có thể dùng bể composite, bể kính hoặc bể xi măng để ấp trứng cá Lóc. Bể sau khi rửa sạch, lấy nước vào với chiều sâu khoảng 40 – 60cm. Trong thời gian ấp trứng, phải luôn sục khí và trao đổi nước. Ấp trứng khoảng 20 – 24 giờ thì trứng nở thành cá bột.

- Sau khi nở 2 – 3 ngày cá bắt đầu ăn thức ăn ngoài và có thể chuyển nơi khác để ương.

2. Kỹ thuật nuôi cá Lóc
2.1 Ương cá giống
- Ương trong giai: Cá con sau khi nở khoảng 3 ngày, bắt đầu đem ương trong giai (4x2x2 m), mật độ thả 70 con/m2. Thời gian đầu có thể cho cá ăn trứng nước hoặc nấu cháo thật nhừ trộn với cá tươi xay nhuyễn và lòng đỏ trứng luộc chín cho cá ăn 3 – 4 lần/ngày. Sau đó có thể cho cá ăn cá tạp xay nhuyễn nấu với tấm cám cho cá ăn 2 – 3lần/ngày. Trước khi cho ăn phải kiểm tra thức ăn còn thừa hay thiếu để điều chỉnh cho phù hợp, 1 – 2 tuần phải vệ sinh giai ương và phân cỡ cá 1 lần. Sau hai tháng cá sẽ đạt trọng lượng 20g/con.

ca loc giong

- Ương trong ao đất: Diện tích ao: 100 – 500 m2, ao sâu 0,8-1m. Ao cần tẩy dọn sạch, bón lót phân gây màu nước trước khi ương để gây nuôi động vật phù du làm thức ăn ban đầu. Mật độ ương từ 30-40 con/m2 từ ngày thứ 20 trở đi cho cá ăn bằng cá tạp, tép băm nhỏ là chính. Cần cho cá ăn đều, no, đủ, cứ 10-15 ngày san thưa và lọc cá một lần.

2.2 Nuôi cá Lóc thương phẩm
2.2.1 Nuôi cá Lóc trong giai đặt trong ao đất
- Thông thường mùa vụ nuôi tập trung từ tháng 5 – 9, trong đó tập trung nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8.

- Giống cá Lóc chọn thả nuôi phải có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, nhiều nhớt, không bị thương tích hay bệnh tật. Cỡ cá giống phải đạt từ 20 – 30g/con, mật độ thả từ 80 – 100 con/m3 là tốt nhất.

a) Thức ăn:
- Thành phần thức ăn: Cá Lóc là loài cá ăn động vật, thành phần thức ăn bao gồm nhiều loại động vật tươi sống như: cá, tép, ếch nhái… Trong quá trình nuôi, có thể tập luyện cá giống quen dần với loại thức ăn chế biến từ cá nguồn nguyên liệu địa phương như cá tạp, tấm cám, bắp, và vitamin…có hàm lượng đạm cao hơn 20 % hoặc sử dụng thức ăn công nghiệp hay thức ăn tự chế biến để nuôi cá.

- Khẩu phần ăn
+ Khẩu phần thức ăn từ 5-15% trọng lượng cá. Khẩu phần này được điều chỉnh tùy thuộc vào nhu cầu dinh dưỡng, tình hình sức khỏe và các giai đoạn phát triển của cá.
+ Thông thường ở thời điểm mới thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn; đến khi cá lớn, thức ăn có thể cung cấp trực tiếp. Việc dùng sàn cho cá ăn được khẳng định mang lại hiệu quả cao trong quá trình nuôi.

b) Chăm sóc và quản lý:
Hoạt động chăm sóc và quản lý cá Lóc cần phải được thực hiện thường xuyên. Các hoạt động này bao gồm: kiểm tra giai (hệ thống dây, lưới…) và tình hình sức khỏe của cá nuôi, vệ sinh giai tránh rong bám nhiều ô nhiễm môi trường nuôi.

c) Thu hoạch:
Thời gian nuôi cá Lóc thường ít nhất là 6 tháng, thông thường là 7 – 8 tháng. Trọng lượng cá khi thu hoạch có thể đạt kích cỡ trung bình 0,5 – 1,5 kg/con. Trước khi thu hoạch 1 – 2 ngày không nên cho cá ăn. Khi thu hoạch có thể dùng vợt vớt cá.

2.2.2 Kỹ thuật nuôi cá Lóc trong ao đất
a) Chuẩn bị ao:
- Diện tích ao: 100 – 1.000 m2, độ sâu: 1,5 – 2 m, nhiệt độ 23 – 32oC, pH từ 6 – 8.

- Ao được cải tạo, dọn dẹp môi trường xung quanh, cống bọng chắc chắn. Bờ bao phải cao hơn đỉnh lủ cao nhất 0,5m. Dùng lưới chắn hoặc đăng tre cao 0,8 – 1m để tránh cá nhảy ra ngoài.

b) Mật độ thả nuôi:
Mật độ nuôi trung bình 15 – 30 con/m2, không nên nuôi quá dày ảnh hưởng đến sức lớn của cá

c) Cho ăn và quản lý chăm sóc:
- Thức ăn giống như ở nuôi cá trong giai, khẩu phần ăn 5-10 % trọng lượng cá.

- Dùng sàn để cho cá ăn và dễ theo dõi cá. Ngày cho ăn hai lần vào buổi sáng và buổi chiều.

- Thường xuyên kiểm tra hệ thống công trình nuôi và hoạt động của cá. Theo dõi sự biến động chất lượng nước trong ao nuôi, cần giữ nước sạch, định kỳ 2 – 3 tuần thay nước một lần. Nếu có điều kiện thì cho nước lưu thông nhẹ thường xuyên.

d) Thu hoạch:
Hạ mực nước ao còn khoảng 40 – 50 cm lấy lưới kéo đánh bắt dần. Khi thu hoạch toàn bộ thì phải tát cạn. Chu kỳ nuôi kéo dài ít nhất là 6 tháng, trọng lượng trung bình 0,5 – 1 kg/con.

Kỹ thuật sản xuất giống và ương nuôi cá lóc, Nguồn: Bộ môn Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.