Kỹ thuật sinh sản cá Ngân Long

Kỹ thuật sinh sản cá Ngân Long
I. Tổng quan

 

1. Phân loại

 

- Asian Arowana – Cá rồng châu Á
- Australia Arowana – Cá rồng Châu Úc
- Silver Arowana – Ngân Long
- Black Arowana – Hắc Long
- Africa Arowana – Cá rồng Châu Phi
2. Phân bố

 

- Cá Rồng phân bood tự nhiên ở các lưu vực sông Amazon (vùng màu xanh) và các nước Guyana, French Guyana ở phía Đông Bắc. Cá hắc long chỉ phân bố trong nhánh sông Negro.
- Cá ngân long (silver arowana) phân bố ở lưu vực sông Amazon, sông Rupununi (Guyana) và Oyapock (French Guyana), Nam Mỹ. Loài này có kích thước tối đa 1.2 mét, vảy to, hàm dưới trề, thân hình trông giống như con dao bầu và không nằm trong danh sách các loài cá phải bảo vệ. Khi còn nhỏ, thân cá thường có những lằn xanh ánh kim và cam, đầu và vây có những đốm đen, viền vây màu hồng. Khi trưởng thành, cá chuyển sang màu ánh bạc. Cá đực có vây hậu môn dài và nhọn hơn cá cái.
- Cá ngân long có giá thành tương đối rẻ, 20 – 25 đô-la một con nên chúng là loài cá rồng được nuôi phổ biến nhất. Tuy nhiên, tài liệu nghiên cứu gần đây ở Peru (Moreau & Coomes, 2006) cho thấy tình trạng khai thác cá rồng đến cạn kiệt đang diễn ra, bên cạnh đó người dân địa phương thu hoạch cá ngân long non bằng cách… chặt đầu cá bố để tránh chúng nuốt con vào bụng. Các hạn chế săn bắt tạm thời của nước sở tại trong thời gian cá sinh sản tỏ ra không có tác dụng. Hiện tại, người ta đang vận động đưa cá ngân long vào danh mục các loài cá cần được bảo vệ tương tự như cá rồng châu Á và cá khổng tượng Arapaima gigas. Nếu điều này thành sự thực thì giá cá ngân long trong tương lai có thể sẽ tăng cao.
- Cá ngân long là một loài cá lớn, hùng dũng với nhiều vảy lớn, lấp lánh. Họ cá Osteoglossidae có mặt từ thời kỷ Jurasic và chúng đã có những thay đổi rất ít trong vòng 150 triệu năm sau này. Đây là một nhóm gồm những cá cá độc nhất và hấp dẫn và chúng luôn có nhu cầu rất cao trong mua bán cá kiểng. Hiện nay, chỉ có ba cá trong nhóm cá này được thông báo là chúng sinh sản trong điều kiện nhân tạo (bắt giữ).
- Cá rồng là một trong những loại cá kiểng có giá trị kinh tế nhất, giá bán đưa ra nằm trong khoảng từ vài trăm đến vài ngàn đô la Mỹ cho một con cá. Tên phổ biến của chúng theo tiếng Trung Quốc là cá rồng hay cá vua cũng cho thấy vẻ thần bí có liên quan đến các loại cá này.
- Cá ngân long (Osteoglossum bicirrhosum) có nguồn gốc từ Nam Mỹ là loài phổ biến nhât trong họ cá cổ này nhưng cá bột mới nở thông thường vẫn còn giữ giá 10 đô la hoặc hơn cho một cá bột, trong khi đó một con cá trưởng thành khỏe mạnh thông thường có giá tới 250 đô la hoặc hơn. Chỉ có cá ngân long và hắc long (O. fereiral) là có thể được vận chuyển với việc xin phép phức tạp. Các loại cá được tìm kiếm nhiều nhất là cá rồng vàng và đỏ (Scleropages formorus) thì đang ở hiểm họa và hiện tại chỉ có thể tìm được ở chợ đen. Tuy nhiên, cũng giống như đồng hồ gi Rolex có ở mọi nơi, cá rồng vàng có thể kiếm được ở khắp khu vực Đông Nam Á bởi vì lợi nhuận cao đền bù lại những món tiền phạt không tránh khỏi. Một con cá rồng vàng mua trên một đường phố ở Indonesia trị giá khoảng 1400 đô la. Chúng tôi hy vọng rằng nghiên cứu của chúng tôi với cá ngân long có thể đem lại sự sản xuất giống của những loài khác cho cả hai mục đích bảo tồn và giải trí.
II. Kỹ thuật sinh sản cá Ngân long

- Vào đầu năm 1991, chúng tôi đã thả nuôi trong bể nuôi thủy sản có đường kính 8 bộ (khoảng 2,64m) với 12 cá ngân long con có kích thước 3 – 4 inches (khoảng 7,62 – 10,16cm), một số cá vẫn còn thấy có túi noãn hoàng. Bể nuôi được gắn với hệ thống dòng chảy từ nguồn nước ngọt và được phủ bằng lưới nilon, việc phủ lưới này rất là quan trọng bởi vì những cá này sẽ nhảy ra khỏi bể tùy theo kích thước và tuổi của chúng vì vậy bể nuôi nên được che suốt thời gian nuôi. Bể nuôi cũng được thả với cá ăn muỗi, cá bảy màu vạt (cá loại từ bầy cá cảnh) và những loại thức ăn tươi sống khác mỗi tuần hai lần. 5 cá trong số 12 cá ngân long thả lúc đầu đã sống được 3 năm nuôi vỗ và đạt tới thành thục sinh dục. Việc tử vong của 7 cá khác đã xảy ra trong suốt giai đoạn nuôi vỗ nhưng thường xảy ra cùng lúc với các trận bão trong hầu hết các trường hợp.
- Năm cá sống sót đạt tới kích thước xấp xỉ 4 bộ sau 3 năm mà kích thước này chúng tôi nghĩ có lẽ là kích thước tối đa của chúng. Tuy nhiên, những số liệu về kích thước về cá rồng thì không giống nhau. Tài liệu từ tạp chí “Exotic Tropical Fishes” liệt kê kích thước tối đa của ngân long là 18 inches và có thể lớn hơn. Những loài nuôi trong bể kính sẽ có thể đạt 18 inches tới 2 bộ.
- Cá rồng không quan trọng về mặt nước nuôi nó, ít nhất là về mặt thủy hóa. Không giống như những loài cá Amazon khác, cá rồng dường như không yêu cầu nước mềm, có tính acid để nuôi thành công. Chúng tôi không làm gì để điều chỉnh nhiệt độ nuớc mà nhiệt độ này thường là thay đổi theo mùa và thông thường nằm trong phạm vi 70 độ F (21 độ C). Độ cứng và pH cũng không được giám sát một cách có hệ thống nhưng độ cứng trung bình có lẽ vào khoảng 60mg/l và pH nằm trong phạm vi từ 7 – 8. Chúng tôi duy trì một chế độ vệ sinh bể nghiêm ngặt, đặc biệt đối với cá ngân long nhỏ và trong suốt giai đoạn thành thục và sinh sản. Chúng tôi tín nhiệm vào thức ăn tươi sống và các loại thức ăn nổi khác, đồng thời với việc vệ sinh bể hàng ngày và sử dụng hệ thống nước chảy để tránh việc tác nghẽn, đóng rong.
- Khi 5 cá ngân long bắt đầu có những dấu hiệu cho thấy chúng đạt tới thành thục sinh sản, chúng được chuyển từ Trung tâm huấn luyện và nghiên cứu nuôi trồng hải sản tới cơ sở của Viện sinh học biển của Hawaii ở Đảo dừa ở đó chúng có thể được theo dõi kỹ càng hơn. Vào lúc đó, kích thước của cá khong 24 – 30 inches (60 – 75 cm) về chiều dài. Việc di chuyển cá có kích thưóc này là một công việc rất phức tạp và không khí trong suốt quá trình vận chuyển có thể tốt nhất được mô t giống như một cuộc đua mô tô. Chúng tôi đã sử dùng một cặp bể bằng sợi thủy tinh (bể compoiste) có đường kính 3 bộ với nắp bằng dỗ dán 3/4 inch, với bể này cá ngân long được định đoạt số phận để chuyển ra khỏi vị trí. Quá trình di chuyển được tiến hành không hề có bất kỳ tai biến gì ngoại trừ một số ít tổn thương được góp phần bằng nhau giữa cá vào người chuyển chúng.
- Trong suốt năm 1993, cá ngân long trưởng thành được cho ăn chủ yếu với thức ăn cá hồi nổi mà chúng đã chấp nhận trước đó. Những thức ăn nổi này dường như là loại thức ăn được chấp nhận duy nhất để xen kẽ với thức ăn tươi sống đối với loại ăn thịt tầng mặt này, chúng không chấp nhận bất kỳ loại thức ăn viên dạng chìm nào mà chúng tôi cung cấp.

- Trong suốt thời gian hè, có những dấu hiệu rất rõ ràng về sự thành thục buồng trứng, có thể quan sát thấy bằng mắt thường ở hai cá, và cũng có những dấu hiệu ve vãn cặp trở nên rõ rệt. Hai con cá lớn nhất trong nhóm trở thành không thể tách rời trên thực tế. Vào cuối tháng 10, chúng tôi chuyển ngược lại cho ăn thức ăn chế biến sử dụng cá vàng. Giữa tháng 11, hai con cái rõ ràng đã mang trứng, điều này dẫn đến một con sinh vào tháng 12/93 và một con vào tháng 1/94, cá hai con đều sinh đồng thời vào những kỳ trăng tròn. Bởi vì tất c 5 con cá đều được th chung trong thời gian chúng sinh sn cho nên chúng tôi không thể xác định được hoặc là tách cặp đã sinh ra. Một số bằng chứng về tính hung hăng (mất một số vảy và miệng có máu) cũng được ghi nhận trong một số cá vào lúc có cá sinh sản đợt đầu.

Kỹ thuật sinh sản cá ngân long, Nguồn: Tạp chí AT số 42 – ĐH Cần Thơ.