Một số mô hình nuôi Ếch Thái

Một số mô hình nuôi Ếch Thái

Một số mô hình nuôi ếch Thái by Khuyến Nông | Mot so mo hinh nuoi ech thai

I. Đặc điểm sinh học
1. Phân bố
Ếch là động vật lưỡng cư sống được cả trên cạn và dưới nước, ếch có khả năng hô hấp bằng phổi và qua da. Ếch phân bố khắp nơi ao hồ, đồng ruộng, sông ngòi, những nơi ẩm ướt và có nguồn nước ngọt. Thịt ếch trắng hồng, dai, thơm ngon là nguồn cung cấp đạm rất tốt cho con người.


2. Dinh dưỡng
Trong tự nhiên, ếch là loài ăn động vật sống, con mồi phải di động như các loài côn trùng, giun, ốc, cá con, tép… Trong điều kiện nuôi sử dụng được thức ăn công nghiệp.

3. Sinh trưởng
– Ếch đồng: nuôi từ cỡ ếch giống 3 – 5g/con, sau 1 tháng có thể đạt 25 – 30g/con, 3 – 4 tháng thành ếch thương phẩm cỡ 80 – 100g/con. Sống ngoài tự nhiên ếch 1 tuổi, con cái nặng 60g, con đực nặng 50g.

– Ếch Thái Lan: nuôi từ cỡ ếch giống 3 – 5g/con, sau một tháng có thể đạt từ 50 – 70g/con, 2,5 – 3 tháng ếch đạt từ 150 – 300g/con lúc này có thể bán ếch thương phẩm.

4. Sinh sản
– Ếch sau khi đạt 10 – 12 tháng tuổi thì có thể tham gia sinh sản. Mùa vụ sinh sản của ếch bắt đầu từ tháng chạp đến tháng 9 âm lịch. Ếch đẻ rộ vào mùa xuân, những đêm mưa rào, ếch đực dùng tiếng kêu để tìm bạn tình, ếch đực kêu to vang vọng là nhờ có hai túi kêu mỏng thông với xoang miệng như hai chiếc loa thùng khuếch đại âm thanh. Còn ếch cái chỉ kêu nhỏ nhẹ và rời rạc.

– Sức sinh sản của ếch: 20.000-30.000 trứng/1kg ếch cái.

II. Các mô hình nuôi
– Nuôi trong bể xi măng: Thích hợp vùng ven đô thị có diện tích đất giới hạn (tận dụng chuồng trại cũ hay bể xi măng bỏ không).

– Nuôi trong ao đất: Thích hợp vùng ven đô thị hay nông thôn có diện tích đất khá lớn.

– Nuôi trong giai (vèo), đăng quầng: Thích hợp vùng có ao hồ lớn có thể vừa nuôi ếch kết hợp với nuôi cá.

1. Nuôi ếch trong bể xi măng


– Bể có diện tích trung bình 6 – 30m2 (2×3, 2×5, 3×5, 4×6, 5x6m), độ cao 1,2 – 1,5m để tránh ếch nhảy ra. Đáy ao nên có độ nghiêng khoảng 5o để dễ thay nước. Nên che lưới nylon trên bễ để tránh nắng trực tiếp và làm tăng nhiệt độ (có thể sử dụng lưới lan). Không nên che mát hoàn toàn bể nuôi. Mực nước trong ao khống chế ngập 1/2 – 2/3 thân ếch. Nên thường xuyên phun nước tưới ếch nhất là vào lúc trưa nắng.

– Mật độ thả nuôi:


+ Tháng thứ nhất: 150 – 200 con/m2
+ Tháng thứ hai: 100 – 150 con/m2
+ Tháng thứ ba: 80 – 100 con/m2

– Sau khi thả nuôi 7 – 10 ngày phải kiểm tra lựa nuôi riêng những con ếch lớn vượt đàn để tránh sự ăn lẫn nhau. Khi ếch đạt trọng lượng 50 – 60gr sự ăn nhau giảm. Thường xuyên thay nước. Nước thay có thể là nước sông, nước giếng, nước ao nhưng phải đảm bảo sạch. Cho ăn nhiều lần trong ngày:- ếch giống (5 – 100gr): 3 – 4 lần trong ngày. Lượng thức ăn 7 – 10% trọng lượng thân.- ếch lớn (100 – 250gr): 2 – 3 lần/ngày. Lượng thức ăn 3 – 5% trọng lượng thân

– Ếch ăn mạnh vào chiều tối và ban đêm hơn ban ngày (lượng thức ăn vào chiều tối và ban đêm gấp 2 – 3 lượng thức ăn ban ngày). Định kỳ bổ sung Vitamin C và men tiêu hóa để giúp ếch tăng cường sức khoẻ và tiêu hoá tốt thức ăn. Có thể tận dụng các bể xi măng cũ để nuôi ếch Thái Lan.

– Khi khống chế độ sâu nước 10 – 20cm (không để mực nước quá cao, ếch sẽ ngộp nếu không lên cạn được) phải sử dụng giá thể để ếch lên cạn cư trú. Giá thể cho ếch lên bờ (gỗ, tấm nhựa nổi, bè tre…). Phải bố trí đủ giá thể để tất cả ếch có chổ lên bờ (1/3 – 1/2 diện tích bể). Trường hợp giữ mực nước cao 10 – 20cm có thể không cần phải che bể.

2. Nuôi trong ao đất


– Chuẩn bị ao
+ Ao diện tích từ 30 – 300 mét vuông (4 x 8m; 5 x10m, 10 x 20 m…), ao không quá lớn sẽ khó quản lý. Có thể trãi bạt nylon nếu ao không giữ nước. Thông thường mô hình này được thiết kế theo dạng ao nổi hoặc nửa nổi nữa chìm.
+ Có thể xây tường gạch hoặc dùng lưới, tôn fibro xi măng, phên tre rào chung quanh ao cao 1,0 – 1,2 mét để tránh ếch nhảy ra ngoài.
+ Mực nước ao khống chế 20 – 30 cm, có ống thoát nước tránh chảy tràn. Nên đặt ống cấp và thoát nước riêng biệt ở hai bờ đối diện nhau theo chiều dài của ao.
+ Tạo giá thể cho ếch lên cạn ở (bè tre, gỗ, tấm nilon…). Nên thả lục bình hay rau muống làm nơi cư trú cho ếch. Diện tích gía thể 50% diện tích ao nuôi. Nếu ao có diện tích rộng khoảng vài trăm m2 thì xung quanh nên chừa bờ rộng từ 1,0 – 1,5 m, cao hơn mực nước trong ao khoảng 20cm, trên đó trồng cây che mát để ếch lên ở.

– Mật độ nuôi: Ếch giống nên thả thưa hơn nuôi trong bể xi măng (60 – 80 con /mét vuông là tối ưu trong tháng đầu), nên thả giống loại lớn (100 – 120 con/kg) và tương đối đồng đều để hạn chế hiện tượng ăn nhau, có thể phân cỡ ương dưỡng trước trên bể xi măng rồi mới thả xuống ao nuôi.

– Cho ăn, chăm sóc:
+ Cho ăn thức ăn viên nỗi hoặc thức ăn tự chế biến, giai đoạn ếch giống cho ăn 3-4 lần/ngày và 2-3 lần/ngày đối với ếch lớn (100g trở lên). Thức ăn thả trực tiếp trên gía thể hay trên chỗ cạn cố định trong ao. Lượng thức ăn trong ngày cũng giống như nuôi trong bể xi măng và tùy vào sức ăn thực tế của ếch.
+ Thường xuyên thay nước tránh để nước dơ ếch dễ nhiễm bệnh (2 – 3 ngày/ 1 lần). Chỉ thay 1/3 lượng nước trong ao.
+ Định kỳ xử lý nước trong ao bằng CF – 1.100, Zeolite, Calci – 100 để ổn định Ph, làm sạch môi trường nước và đáy ao.
+ Chú ý kiểm tra, canh phòng thường xuyên các loài địch hại vào ăn ếch (chim, chuột, rắn, mèo, chó, cá dữ…).
+ Nuôi ếch trong ao đất lớn nhanh và ít tốn công chăm sóc hơn nuôi trong bể xi măng, chi phí đầu tư thấp hơn nhưng có nhược điểm:
. Tỉ lệ sống thấp hơn nuôi trong bể xi măng do khó kiểm soát được bệnh, địch hại và lựa ếch vượt đàn.
. Nếu bờ ao không chắc chắn, bị rò rỉ, ếch đào hang để trú ẩn ít ra ăn mồi nên chậm lớn.

3. Nuôi ếch trong giai hay đăng quầng
Thích hợp vùng có ao hồ lớn có thể vừa nuôi ếch kết hợp nuôi cá.

a) Nuôi trong giai


– Giai có kích thước 6 – 50 mét vuông (2×3, 4×5, 5x10m), cao 1 – 1,2 m, làm bằng lưới nylon may kín 5 mặt và phía trên có nắp đậy để tránh ếch nhảy ra ngoài và đề phòng địch hại.

– Giai treo trong ao sao cho đáy vèo ngập nước ngập khoảng 20 – 30 cm.

– Tạo giá thể cho ếch lên cạn cư trú (tấm nylon đục lỗ, bè tre, lục bình…). Tổng diện tích giá thể chiếm 2/3-3/4 diện tích giai. Có thể đặt những tấm xốp phía mặt dưới của đáy để giai nổi lên làm nơi cho ếch lên nghỉ ngơi, tắm nắng và ăn mồi.

– Mật độ nuôi trong giai tương đương nuôi trong bể xi măng (150 – 200 ếch con trong tháng đầu), đến khi thu hoạch còn khoảng 80 – 100con/mét vuông.

– Cho ăn cũng giống như cho ăn trên bể xi măng : rải thẳng vào giai hoặc để trên những miếng nổi (thường áp dụng cho thức ăn tự chế biến).

– Định kỳ xử lý nước trong ao bằng CF – 1.100, Zeolite, Calci – 100 để ổn định pH, làm sạch môi trường nước và đáy ao.

– Chú ý kiểm tra, canh phòng thường xuyên các loài địch hại vào ăn ếch (chuột, rắn, cá dữ…).

b) Nuôi trong đăng, quầng
– Đăng quầng có kích thước lớn hơn giai (100 – 500 mét vuông), dùng lưới nylon hay đăng tre bao quanh một phần diện tích trong ao, bên dưới không có đáy như giai.

– Mật độ nuôi trong đăng quần (20 – 40 con/mét vuông).

– Thả lục bình, bè tre, nylon nổi để làm nơi ếch lên cạn cư trú. Diện tích giá thể ¾ diện tích đăng quầng.

– Chế độ cho ăn, chăm sóc và quả lý nguồn nước giống như nuôi trong giai.

BÌNH LUẬN

Làm ơn để lại binh luận của bạn
Để lại tên của bạn tại đây