Quy trình kỹ thuật nuôi Cá Tra

Quy trình kỹ thuật nuôi Cá Tra

Quy trình kỹ thuật nuôi cá tra by C.ty XNK TS | Quy trinh ky thuat nuoi ca tra

A. Tổng quan
Cá tra là một trong những loài cá có giá trị kinh tế phổ biến ở Đông Nam Á (camphuchia, Thai Lan, Indonesia,…)là một trong các loài nuôi quan trọng của khu vực này. Đồng bằng Nam Bộ đã có truyền thống nuôi cá Tra phổ biến trong ao và bè. Năng suất nuôi cá tra rất cao, trong ao đạt tới 60 – 70 tấn/ha, trong bè có thể đạt tới 100 – 300 kg/m2 nước bè nuôi. Cá tra đang trở thành một đối tượng có giá trị xuất khẩu trong thời gian gần đây.

B. Kỹ thuật nuôi cá tra
I. Đặc điểm sinh học
1. Phân loại
- Cá tra là 1 trong các loài của họ cá Tra (Pagasiidae) có ở hạ lưu sông Mêkông (Cửu Long) địa phận Việt Nam.

- Theo hệ thống phân loại, cá Tra được xếp như sau:

- Bộ cá Nheo (Siluormes)s)

- Họ cá tra (Pangasiidae)

2. Phân bố
- Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mê Kông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân tạo, cá bột và cá giống được vớt trên sông Tiền và sông Hậu. Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, ít gặp trong tự nhiên, do cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mê Kông để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên. Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở địa phận Campuchia cho thấy cá ngược dòng từ tháng 10 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm.

- Ở Việt Nam cá tra không đẻ trong ao nuôi, cũng không có bãi đẻ tự nhiên. Cá tra đẻ ở Campuchia và cá bột theo dòng nước về Việt Nam.

3. Đặc điểm hình thái và sinh thái
- Cá thân dài, không vẩy, màu sắc đen xám trên lưng, bụng hơi bạc, miệng rộng, có 2 đuôi râu dài.

- Cá sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ (10 – 14 % độ muối), có thể chịu đựng được nước phèn với pH> = 4 (pH dưới 4 thì cá bỏ ăn, bị sốc), ít chịu đựng được nhiệt độ thấp dưới 15 độ C, chịu nóng tới 39 độ C.

4. Đặc điểm dinh dưỡng
- Cá hết noãn hoàn thì thích ăn mồi tươi sống, vì vậy chúng ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp, thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vớt cá bột. Chúng ăn các loại phù động vật có kích thước vừa cỡ miệng của chúng.

- Khi cá lớn, tính ăn tạp thiên về động vật và dễ chuyển đổi loại thức ăn. Trong ao nuôi cá Tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn, kể cả thức ăn bắt buộc như: mùn, bã hữu cơ, cám, rau, phân hữu cơ, động vật đáy,….

5. Đặc điểm sinh trưởng
- Cá trong tự nhiên, có thể sống trên 20 năm. Đã gặp cỡ cá trong tự nhiên 18 kg hoặc có mẫu dài tới 1,8m. Trong ao nuôi cá bố mẹ cho đẻ đạt tới 25 kg ở cá 10 tuổi.

- Nuôi trong ao 1 năm cá đạt 1 – 1,5 kg/con (năm đầu tiên), những năm về sau cá tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt 5 – 6 kg/năm.

6. Đặc điểm sinh sản
- Tuổi thành thục: Cá Tra đực thành thục ở tuổi thứ 2 và cá cái ở tuổi thứ 3 trở lên.

- Cá Tra không có cơ quan sinh dục phụ (thứ cấp), nên nhìn hình dáng ngoài khó phân biệt đực – cái.

- Ở thời kì thành thục, tuyến sinh dục ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh, ở cá cái gọi là buồng trứng.

- Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 – 6 (dương lịch), cá đẻ tự nhiên trên sông ở những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp. Cá không đẻ ở phần sông của Việt Nam. Ở Campuchia, bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông Mê Kông và Tonlesap, từ Sombor, tỉnh Crache trở lên.

- Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể nuôi thành thục sớm và cho cá sinh sản sớm hơn trong tự nhiên (tháng 3).

- Trong tự nhiên không gặp tình trạng tái phát dục. Chỉ có trong điều kiện nuôi nhân tạo, cá Tra có thể tái phát dục 1 – 2 lần trong năm.

- Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của cá ta gọi là sức sinh sản tuyệt đối. Sức sinh sản tuyệt đối của cá Tra có thể từ 200.000 đến vài triệu trứng.

II. Kỹ thuật sản xuất giống
1. Nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ
1.1. Nuôi vỗ cá bố mẹ
- Ao đất: Diện tích ít nhất từ 500 m2 trở lên, có độ nước 1 – 1,5 m. Nguồn nước cấp cho ao phải chủ đọng sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt hay nước thải công nghiệp, hoá chất. Ao có cống tháo nước và cấp nước dễ dàng.

- Bè: Bè đặt trên sông nước lưu thông, rất thuận lợi cho đời sống và phát dục của cá, vì các điều kiện thủy lý hoá của nước sống và phát dục của cá, vì các điều kiện thuỷ lý hoá của nước sông hiện nay rất phù hợp với cá. Nhưng chú ý không nên đặt bè nơi có dòng xoáy, nơi có nguồn nước thải chảy ra.


1.2. Lựa chọn cá bố mẹ nuôi vỗ
- Độ tuổi: Cá đực phải từ 2 năm tuỏi và cá cái 3 năm tuổi trở lên. Chọn cá khoẻ mạnh, ngoại hình hàon chỉnh không bị dị hình, dị tật, trọng lượng cá từ 2,5 – 3 kg trở lên đưa vào nuôi vỗ


- Mật độ thả nuôi vỗ: 10 m2/con.

- Nuôi trong ao: 5 m3 nước cho 1 kg cá bố mẹ

- Nuôi trong bè: 0,5 – 1 m m3 cho 1 kg cá bố mẹ.

- Có thể nuôi chung đực, cái trong ao, bè,.Tỷ lệ nuôi đực, cái là 0,7 – 1,1.

1.3. Thức ăn cho cá bố mẹ
- Nhu cầu thức ăn của cá bố mẹ: Để cá phát triển và có sản phẩm sinh dục tốt, cần phải cung cấp thức ăn cho cá đủ về số lượng, cân đói về thành phần dinh dưỡng. Thức ăn phải cung cấp hàng ngày cho cá. Nhu cầu vè hàm lượng dinh dưỡng cho cá tương đối cao, phải có đủ đạm, đường, mỡ, vitamin, chất khoáng…. Đặc biệt hàm lượng đạm (Protêin) phải đảm bảo từ 30% trở lên thì cá mới thành thục tốt.

- Nguyên liệu làm thức ăn cho cá: Cá tạp tươi, khô cá biển, bột cá lạt, con ruốc, bột đạu nành, cám gạo, bột bắp, rau xanh (muống, lang) quả bí rợ, cơm dừa,…

- Để thức ăn có đủ hàm lượng đạm cho cá, ta phỉa chọn 1 số thành phần trên và trộn chúng với nhau và chế biến thành thức ăn. Một số công thức tham khảo sau:


- Khẩu phần ăn hàng ngày từ 4 – 5% trọng lượng cá. Mỗi ngày cho ăn từ 1 – 2 lần.

2. Kỹ thuật cho cá đẻ
2.1. Chọn cá bố mẹ


- Cá bố mẹ được tuyển chọn phải khoẻ mạnh, bơi lội nhanh nhẹn.

- Cá cái: bụng to, mềm, hạt trứng đèu, màu vàng nhạt hoặc trắng nhạt.

- Cá đực: khi vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục thấy thấy tinh dịch chảy trắng đục và đặc như sữa.

2.2. Các kích dục tố sử dụng và phương pháp tiêm cho cá đẻ
- Các kích dục tố sử dụng: HCG, LRHa + DOM, Não thuỳ thể của các loài cá (mè trắng, chép, trôi,…)

- Các loài kích dục tố này có thể sử dụng đơn giảm hoặc kết hợp nhiều loại để tăng hiệu ứng. Nếu dùng kết hợp, chỉ nên dùng ở liều quyết định. Tuy nhiên, nếu dùng kết hợp thì phải chọn 1 loại làm chính.h.

- Phương pháp tiêm:
+ Đối với cá tra dùng phương pháp tiêm nhiều lần, đối với cá cái thì 2 – 4 lần sơ bộ và 1 lần quyết định. Với cá đực thì tiêm 1 lần cùng lúc với liều quyết định của cá cái. Thời gian giữa các lần sơ bộ là 12 hoặc 24 giờ. Giữa lièu sơ bọ cuối cùng và liều quyết định cách nhau 8 – 12 giờ.
+ Tuỳ theo chất lượng trứng và chủng laọi kích dục tố ta áp dụng các liều tiêm thích hợp.
+ Đối với HCG: Tiêm sơ bộ 300 – 1.000 UI/kg cá cái. Quyết định 3.000 UI trở lên/kg cá cái.

- Thời gian hiệu ứng thuốc: sau 8 – 12 giờ liều tiêm quyết định thì trứng rụgn

- Vị trí tiêm: Tiêm ở cơ hoặc ở xoang. Đối với cá tra là cá không vẩy nên tiêm ở cơ đơn giản hơn. Ở các lần tiêm khác nhau nên tiêm ở vị trí khác nhau.

2.3. Vuốt trứng và ấp trứng
- Đối với cá tra khi đẻ dùng phương pháp vuốt trứng và thụ tinh khô. Khi ấp trứng có thể khử dính sau đó ấp bình vây hoặc dùng giá thể cho trứng cho trứng dính và cho bể ấp sục khí.


- Trứng cá tra thuộc loại trứng dính nên ta có thể khử dính hoặc không khở dính mà dùng giá thể cho trứng dính và ấp trong bể ấp.
+ Có thể dùng axittanic, hoặc một số hợp chất khác để tiến hành khử dính. Sau khi cho chất khử vào trứng ta dùng lông gà khuấy đều trong khoảng 30 giây thì ta chắt nước đó ra và dùng nước sạch rửa trứng nhiều lần cho sạch sau đó ta vào bình vây để ấp trứng. Điều chỉnh nước trong bình vây để trứng đảo đều. Trong khoảng 18 – 24 giờ thì trứng bắt đầu nở. Thời gian để nở hết có khi kéo dài 30 giờ tuỳ theo nhiệt độ và khoảng cách giữa các lần cho trứng vào bể ấp.
+ Trứng không khử dính: Dùng giá thể cho trứng bám vào. Khi trứng đã thụ tinh xong ta dùng lông gà vẩy trứng đều trên giá thể (giá thể để trong nước) giá thể có thể dùg bằng lưới nilon hoặc lưới vèo căng trê một cái khung. Khi rải trứng xong ta treo trong nước bể ấp và sục khí cho đến khi trứng nở và vớt giá thể ra. Ap trứng theo phương pháp này không cần htiết tiến hành thay nước liên tục.

- Quản lý va thu cá bột: Cá nở khoảng 20 giờ thì ta thu cá bột đưa xuống ao hoặc xuất bán. Trong quá trính quản lý cá bột trong bể cần phải thay nước nhiều hay ít tuỳ theo lượng cá bột có trong bể.

- Sau khi cá nở 20 giờ thì thu cá bột, không nên để quá thời gian này. Vì khi hết noãn hoàng cá bắt đầu cắn ăn lẫn nhau làm hao cá bột. Nếu chúng ta xuất bán hoặc đưa xuống ao thì hạn chế sử ăn lẫn nhau của chúng.

3. Kỹ thuật ương nuôi cá tra giống
3.1. Nhu cầu thức ăn của cá sau khi hết noãn hoàng
Sau khi hết noãn hoàng, cá bột bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài. Cá thích ăn môi tươi sống, có mùi tanh. Những thức ăn ưa thích của cá tra bột là:
- Cá bột các loài (như Mè vinh, He, Rô đồng, …). Các loài chi giác của giáp xác thấp (còn gọi là trứng nước), ấu trùng Artemia. Chúng ăn lẫn nhau khi ta không kịp thời cung cấp thức ăn cho chúng.

- Biện pháp giải quyết tốt nhất là phải tạo được một lượng thứ c ăntự nhiên có sẵn và đầy đủ trong ao ương trước khi thả cá bột, nhằm đáp ứng đủ nhu cầu ăn của cá, hạn chế được sự ăn lẫn nhau của chúng.

3.2. Kỹ thuật ương
- Chuẩn bị ao: Ao có diện tích lớn nhỏ tuỳ theo khả năng từng hộ, càng lớn càng tốt, không nên quá hẹp (dưới 200 m2). Độ sâu nước thích hợp 1 – 1,5 m. Nguồn nước cấp cho ao phải sạch sẽ và chủ động.

- Các bước tiến hành:
+ Tát cạn ao, diệt hết cá tạp, cá dữ và dịch hại (rắn, cua, ếch, chuột,…) dùng chất Rôtenone để diệt (có trong dây thuốc cá), lượng dùng thuốc cá tươi 1 kg cho 100 m3 nước ao.
+ Sên vét bớt bùn đáyáy
+ Bón vôi: rải đều đáy và mái bờ ao 7 – 10 kg/100m2.
+ Phơi đáy 2 – 3 ngày.
+ Bón lót phân chuồng hoặc phân vô cơ 10 – 15 kg phân (heo, gà, cút)/100 m2 đáy ao. 0,5 kg (lân +urê đều nhau0/100 m2 đáy ao.
+ Đưa nước vào sâu 0,3 – 0,4 m.
+ Thả giống trứng nước và trùng chỉ (5 lon trứng nước và 2 lon trùng chỉ cho 100 m2 đáy ao).
+ Đưa nước ngập khoảng 0,7 – 0,8 mm.
+ Thả cá bột
+ Tiếp tục đưa nước vào ao, từ từ sau 2 ngày đến đủ chiều sâu nước yêu cầu (1 – 1,5 m).
+ Thả cá bột:

- Lựa chọn cá bột: Quan sát cá đều cỡ, bơi lội nhanh nhẹn, sắp hết noãn hoàng, màu sắc cá tươi sáng.

- Mật độ thả: 400 – 500 con/m2 ao.

- Thức ăn và chăm sóc cá:
+ Khâu chuẩn bị ao đầy đủ là ta đã gây nuôi được một phần thức ăn tự nhiên cho cá, khi thả cá xuống ao là đã có sẵn nguồn thức ăn.
+ Tiếp tục bổ sung các loại thức ăn khác như bột đậu nành, lòng đỏ trứng, bột cá, sữa bột, vừa để cấp thức ăn trực tiếp cho cá, vừa để tạo môi trường gây nuôi tiếp tục các giống loài thắc ăn tự nhiên cho cá (như trùng chỉ, trứng nước,…). Cách thức này kéo dài trong tuần lễ đầu.
+ Lượng dùng: Cứ 10.000 cá thả trong ao, dùng 20 lòng đỏ trứng vịt, 200 gam đậu nành xay nhuyễn và nấu chín mmỗi ngầy cho ăn từ 4 – 5 lần. Sau 10 ngày, khi cá đã bắt đầu ăn móng, tăng thêm 50% lượng trên và bổ sung thêm trứng nước và trùng chỉ. Lúc này đã có thể cho ăn dặm cá tươi xay nhuyễn.
+ Sau tuần thứ 2 cho ăn cá + ố xay nhuyễn (trộn bột gòn). Sau 1 tháng, bắt đầu cho ăn chế biến: cám trộn bột cá hoặc xay nhuyễn, nấu chín và đưa xuống sàn ăn (cám + bột cá: tỉ lệ 1/1, cám + cá tươi: tỉ lệ ½). Khẩu phần ăn 5-7% mỗi ngày.

- Ương thành cá hương: Sau 3 tuần cá đạt cỡ 0,7 cm cao thân.

- Ương cá giống: tiếp tục ương 30 – 50 ngày, cá đạt cỡ 2 cm chiều cao thân. Sau 70 – 100 ngày cá đạt cỡ 3 cm cao thân.

III. Kỹ thuật nuôi cá trao thâm canh trong ao
1. Chuẩn bị ao nuôi
- Ao nuôi cá tra có diện tích từ 500 m2 trở lên, có độ sâu nước 1,5 – 2m, bờ ao chắc chắn và cao hơn mực nước cao nhất trong năm. Cần thiết kế cống để chủ động cấp thoát nước dễ dàng cho ao. Trước khi thả cá phải thực hiện các bước chuẩn bị sau:

- Tháo cạn hoặc tát cạn ao, bắt hết cá trong ao. Dọn sạhc rong, cỏ dưới đáy ao và bờ ao.

- Vét bớt bùn lỏng đáy ao, chỉ để lại lớp bùn đáy dày 0,2 – 0,3 m.

- Lấp hết hang hốc, lỗ mọi và tu sửa lại bờ, mái bờ ao.

- Dùng vôi bột rải khắp đáy ao va bờ ao, 7 – 10 kg/100m2.

- Phơi đáy ao 2 – 3 ngày, tiến hành cho nước từ từ vào ao qua cống có chắn lưới lọc để ngăn cá dữ và dịch hại lọt vào ao.

2. Thả cá giống
- Cá thả nuôi phải mạnh khoẻ, đều cỡ, không bị sây sát, nhiều nhớt, bơi lội nhanh nhẹn.


- Kích cỡ cá thả: 10 – 12 cm, 50 – 100 gam/con

- Mật độ thả nuôi: 15 – 20 con/m2.

3. Thức ăn
- Sử dụng nguyên liệu có sẵn tại dịa phương và phối chế hợp lý để đảm bảo hàm lượng protein từ 15 – 20%. Một số công thức thức ăn có thẻ tham khảo ở bảng sau:


- Cách cho ăn:
+ Các nguyên liệu được xay nuhyễn, trộn đều cùng chất kết dính (bột gòn) để hạn chế việc tan rã nhanh của thức ăn, sau đó rải từ từ cho cá ăn từng ít một cho đến khi hết thức ăn.
+ Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần sáng và chiều tối
+ Khẩu phần thức ăn 5 – 7% trọng lượng thân.

4. Quản lý chăm sóc
- Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh tăng giảm cho phù hợp. Khi bắt đầu cho ăn vì cá đói nên tập trung để ginàh ăn. Khi ăn đr no thì cá tản ra xa, khôn go lại nữa.

- Mặt dù cá tra chịu rất tốt trong điều kiện nuôi mật độ cao và nước ao ít thay đổi, nhưng pahỉ chú ý định ký thay bỏ nước cũ và cấp nước mới để môi trường ao luôn sạch, phòng cho cá không bị nhiễm bệnh. Cứ 10 ngày thì thay ½ – 1/3 nước cũ và cấp đủ nước sạch cho ao.

IV. Một số bệnh thường gặp
1. Bệnh ký sinh trùng
a. Bệnh trùng bánh xe


- Do trùng Trichodina spp ký sinh trên thân hoặc mang.

- Trên thân cá có lớp màu hơi trắng đục, da cá sậm lại, mang cá nhợt nhạt, cá giảm ăn và nổi đầu từng đàn trên mặt nước bơi đảo loạn lòng vòng, chìm xuống đáy rồi chết.

- Phòng và trị: Dùng muối 2 – 3% (20 – 30g muối/lít nước) hoăc dùng Sulphat đồng (CuSO4) với liều 0,5 – 0,7 ppm/ m3 (0,5 – 0,7 g/m3) tạt đều khắp ao.

b. Bệnh trùng quả dưa


- Do trùng Ichthyophthyrius multicifillis ký sinh trên da, mang và vây.

- Da, mang và vây cá có nhiều nhớt màu sắc nhợt nhạt, cá bệnh nặng có thể thấy trùng bám thành các hạt lấm tấm nhỏ màu trắng đục. Cá bệnh nổi đầu từng đàn trên mặt nước, bơi lờ đờ yếu ớt, thường tập trung chỗ nước mới.

- Phòng và trị bệnh: Dùng Formol với liều lượng 25 – 30ml/m3, sau 3 ngày thay 75% nước và trị bằng formol thêm lần nữa.

c. Bệnh do sán lá đơn chủ
- Do 2 giống Dactylogyrus (sán lá 16 móc) và Gylodactylus (sán lá 18 móc) ký sinh trên mang cá. – Cá thường nổi đầu trên mặt nước, tập trung chỗ nước mới. Khi bị trùng bám nhiều, mang và da có nhiều nhớt, mang có màu màu hồng nhạt, màu trắng hoặc thối rữa.

- Phòng và trị bệnh: Có thể dùng Formol với liều lượng 25 – 30ml/m3. Ngày hôm sau thay 50% lượng nước và xử lý thêm lần nữa nếu cá chưa hết hẳn, hoặc có thể dùng muối ăn với nồng độ 3 – 4% (30 – 40g muối/lít nước) để xử lý.

d. Bệnh nội ký sinh
- Do giun tròn (Nemathelminthes), giun đầu móc (Acanthocepphala) ký sinh trong ruột cá.

- Giun ký sinh trên niêm mạc ruột hút chất dinh dưỡng làm cho cá gầy yếu, sinh trưởng kém, gây viêm thủng ruột, tạo điều kiện cho vi khuẩn và
nấm tấn công.

- Phòng và trị bệnh: Trước khi nuôi cá cải tạo ao để diệt trứng giun. Có thể dùng các sản phẩm trị nội ký sinh trùng được phép lưu hành trên thị trường.

2. Bệnh vi khuẩn
a. Bệnh xuất huyết (bệnh đốm đỏ)
- Do vi khuẩn Aeromonas hydrophyla gây ra.

- Xuất hiện những đốm đỏ quanh miệng, nắp mang và bụng, hậu môn sưng lồi, bụng trương to và có chứa dịch màu vàng hoặc màu đỏ bầm.

- Phòng trị bệnh: Tránh làm xây xát cá, nuôi mật độ nuôi quá dày. Dùng thuốc tím (KMnO4) liều dùng là 3 – 5g/m3 nước đối với cá nuôi ao và 10g/m3 nước đối với cá nuôi bè. Xử lý lập lại sau 3 ngày, định kỳ một tuần, hai tuần hoặc một lần/tháng tuỳ thuộc vào tình trạng sức khỏe cá.

- Dùng thuốc trộn vào thức ăn:
+ Oxytetracyline: 55 – 77 mg/kg thể trọng cá nuôi, cho ăn 7 – 10 ngày, nên hạn chế sử dụng.
+ Kanamycin: 50 mg/kg cá nuôi, cho ăn 7 ngày.

+ Nhóm Sulfamid: 150 – 200mg/kg thể trọng đàn cá, cho ăn 10 – 20 ngày.

b. Bệnh phù mắt


- Do vi khuẩn Aeromonas sobria gây ra.

- Cá nhiễm bệnh sẽ bơi lờ đờ trên mặt nước, mắt xuất huyết và xưng nặng.

- Phòng và trị bệnh: Áp dụng biện pháp phòng bệnh chung.

- Cách trị: Thay 50% lượng nước và bón vôi 4 – 6kg/100m3 nước. Có thể dùng thuốc giống như tri bệnh xuất huyết.

c. Bệnh mủ gan


- Do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra.

- Cá gầy mắt hơi lồi, cá bệnh nặng bỏ ăn bơi lờ đờ trên mặt nước và tỷ lệ chết cao, dấu hiệu bên ngoài không rõ ràng, xuất hiện nhiều đốm trắng đục trên gan, thận và tỳ tạng.

- Phòng và trị bệnh: Áp dụng biện pháp phòng bệnh chung.

- Cách trị: Thay 50% lượng nước và bón vôi 4 – 6kg/100m3 nước. Dùng 1 trong 3 loại kháng sinh sau florphenicol, doxycyclin. Liều dùng 0,5 – 1g/1kg thức ăn. Có thể bổ sung thêm Vitamin C để tăng cường sức đề kháng cho cá.

d. Bệnh trắng da
- Do vi khuẩn Flexibacter sp gây ra.

- Cá bị nhiễm bệnh thường bỏ ăn, gốc vây lưng xuất hiện vết đốm trắng sau đó lan dần đến cuống đuôi và toàn thân. Cá bị bệnh nặng thường bơi lờ đờ ngang mặt nước, rồi lộn đầu xuống và chết.

- Phòng trị: Áp dụng biện pháp phòng bệnh chung.

- Cách trị: Trộn Enrofloxacin, colistin 0,5 – 1g/kg thức ăn cho ăn liên tục 5 – 7 ngày. Hoăc dùng chlorin phun đều khắp ao với liều 1 g/m3.

V. Thu hoạch
Thời gian nuôi trung bình 10 tháng, cá dạt cỡ 0,7 – 1,5 kg/con. Có thể thu hoạch 1 lần và giữ lại cá nhỏ chưa đạt cỡ thương phẩm. Sau vụ thu hoạhc pahỉ tát cạn ao và làm công tác chuẩn bị cho vụ nuôi kế tiếp.